Nhận Lầm Con


Nhận Lầm Con
Có một chàng ngu kia sinh được đứa con trai, chăm chút thương yêu như
ngọc như ngà. Một buổi sáng anh chàng đi ra chợ sớm, ở nhà lửa bốc cháy
nhà và người ta bồng đứa con anh chạy mất, lúc trở về thấy nhà cháy, anh
không tiếc, anh chỉ cuống cuống lên khi không thấy con. Một người láng
giềng ức đoán chỉ vào thây của một kẻ bất hạnh đã cháy thành than và bảo:
“Con anh chết cháy đây rồi”. Thế là anh chàng tin ngay là thật, khóc than kể
lể khôn xiết, rồi may một cái túi vải vuông bỏ nắm tro tàn vào đó mang luôn
bên mình không lúc nào rời. Rồi cứ đinh ninh rằng con mình đã chết cháy,
và nắm tro bên mình là xác con, không biết con mình hiện giờ đang còn
sống.
Một buổi kia được thả, đứa con về gõ cửa kêu cha. Anh chàng buồn quá
đóng cửa ngồi trong nhà, nghe gõ cửa hỏi vọng ra:

  • Ai gọi đó?
  • Con đây.
  • Con, tôi đâu dám! Con tôi chết đã ba tháng rồi.
  • Không, con còn sống đây mà, mở cửa cho con vào!
  • Láo, cút đi! Con tao đã chết, mày là ai, đến đây nhận hảo thế? Cha con gì?
    Ðứa con nằn nì ngoài cửa mãi, người cha ngồi trong nhất định không mở
    cửa. Cuối cùng nó đành khắc khoải ra đi. Thương hại cho anh chàng! Cha
    con không nhận, lại nhận bị xương khô!
  • Người ngu tự biết mình ngu, nên biết người ấy có trí;
  • Người có trí tự cho là có trí, nên biết người ấy ngu nhất trên đời.
  • Người ngu cố chấp sự hiểu biết của mình là đúng, nên không bao giờ chịu
    thừa nhận những điều hiểu biết của kẻ khác. Vì thế, không bao giờ họ đạt
    đến được chân lý.
  • Phật là gì? Tu Ðạt hỏi
  • Quan huynh chẳng nghe ư? Con vua Tịnh Phạn ở thành Ca Tỳ La Vệ, tên
    Tất Ðạt Ða, vì thấy khổ, sanh, già, bệnh, chết, buồn lòng không vui thú gia
    đình, bèn bỏ cung điện đi tu, sau sáu năm khổ hạnh, được trí huệ đầy đủ,
    thắng chúng ma vương, tự tại thần thông, quan minh chiếu diệu được người
    xưng tôn là Phật.
  • Còn thế nào gọi là Tăng?
  • Tăng chỉ các vị đệ tử của Phật đều là bậc sáng suốt giải thoát, có thể vì
    chúng sanh làm đám ruộng phước.
    Tu Ðạt vui mừng vô hạn hỏi tiếp:
  • Chẳng hay Phật và chư Tăng ở đâu?
  • Tại một Tịnh Xá trong vườn Trúc (Trúc Lâm).
    Trong đêm ấy Tu Ðạt Ða sanh lòng kính tin, lăn lộn không ngủ, trông mau
    trời sáng để đến ra mắt Thế Tôn.
    Vừa bình minh ông đã trổi dậy, hỏi hướng rồi ra đi.
    Tịnh xá Trúc Lâm vẫn còn yên tịnh, sương lạnh phủ dày, các Tỳ kheo còn
    đang thiền tọa. Tu Ðạt Ða đang ngơ ngác, thì đàng xa có bóng người tiến
    đến. Thì ra đó là Ðức Phật, bởi biết trước nên xuất thiền ra ngoài kinh hành.
    Vừa trông thấy tướng mạo nghiêm trang, oai nghi, đĩnh đạt của Ngài, Tu Ðạt
    Ða mừng quá quên cả lễ phép:
    “Thưa ông, không biết đức Cù Ðàm đã dậy chưa? Ngài ở đâu? Tôi muốn
    gặp liền bây giờ được chăng?” Ðức Phật vui vẻ chỉ chỗ mời ngồi, rồi ôn tồn
    hỏi: “Ông tìm đức Cù Ðàm có việc chi? Chính tôi là người ông đang tìm”.
    Biết là Ðức Phật và cảm kích trước lời nói của Ngài, Tu Ðạt Ða liền cúi
    mình làm lễ và tha thiết bạch rằng: “Lạy Ngài rũ lòng thương xót, mở lòng
    dạy bảo cho kẻ đệ tử đầy tội lỗi này!”.
    Ðức Thế Tôn bèn nói Pháp: khổ, không, vô thường, vô ngã và Niết Bàn yên
    vui vắng lặng cho ông Tu Ðạt nghe. Khi nghe xong, ông quá đỗi vui mừng,
    liền nhiễm Thánh pháp, đắc quả Tu Ðà Hoàn, thí như miếng lụa trắng dễ ăn
    màu nhuộm. Trưởng giả bèn quì xuống, chấp tay lạy Phật: “Bạch Thế Tôn,
    những người ở thành Xá Vệ nghe pháp có thể dễ thâm nhiễm như con
    không?” Phật bảo: “Ông vì túc căn nên mới sớm ngộ như thế không phải ai
    cũng ngộ như vậy đâu. Vả lại dân thành Xá Vệ phần nhiều tin theo tà giáo,
    khó mà nhiễm thánh pháp”. Tu Ðạt bạch Phật: “Cúi xin Ngài thương xót, rủ
    lòng đại từ quang lâm Xá Vệ đánh chuông cảnh tỉnh để người theo tà quay
    về lẽ chánh”.
    Phật bảo: Phép của người xuất gia không được ở chung chạ với người thế
    tục, bên ấy không có Tịnh xá thì làm sao ta và các Tỳ kheo sang ấy ở được.
  • Ðệ tử xin phát tâm kiến tạo Tịnh xá mong Phật từ bi hứa khả cho.
    Ðức Phật yên lặng, tỏ dấu hứa chịu.
    Mấy hôm sau, khi lo vợ cho con xong ông Tu Ðạt trở lại rừng Trúc bái Phật
    xin phái một vị đệ tử đi theo chỉ bảo cách thức xây cất Tịnh xá. Ðức Thế
    Tôn nghĩ rằng ở Xá Vệ bọn Bà La Môn rất nhiều, họ tin tưởng xằng bậy
    những điều không hợp chánh lý thế nào họ cũng ra mặt tranh đương, người
    kém tài kém đức, khó bề hàng phục được họ. Chỉ có Xá Lợi Phất trước là
    dòng dõi Bà La Môn thông minh đa trí, hiểu rõ nội bộ của họ đi mới có lợi.
    Phật liền sai Xá Lợi Phất đi theo Tu Ðạt sang Xá Vệ.
    Dọc đường Tu Ðạt hỏi Xá Lợi Phất: “Ðức Phật đi bộ bao nhiêu dặm trong
    một ngày?” Xá Lợi Phất đáp: “Chừng nửa do tuần”. Ông Tu Ðạt bèn cứ hai
    mươi dặm là mướn người cất một khách xá (nhà tạm) để khi Phật sang Xá
    Vệ, đêm có chỗ tạm nghĩ.
    Khi về đến nhà, Tu Ðạt và Xá Lợi Phất trải qua mấy ngày vất vả và vẩn
    chưa tìm ra chỗ nào vừa ý. Một hôm đi ngang vườn cây của Thái tử Kỳ Ðà,
    thấy đất đai bằng phẳng, cây cối xum xuê. Xá Lợi Phất bảo Tu Ðạt: “Trong
    vười này cất Tịnh Xá được, vì không xa không gần thành; xa quá thì khó cho
    sự khất thực, còn gần quá thì ồn ào, loạn động khó yên tâm để tu hành”.
    Thấy Tu Ðạt ra chiều suy nghĩ, Xá Lợi Phất tiếp: “Phải chăng ông sợ không
    thể mua được chớ gì? Ông nên đến ướm hỏi Ðông cung xem sao”.
    Ông Tu Ðạt liền đánh bạo đến ra mắt Thái tử Kỳ Ðà.
  • Tâu Thái tử! Tôi muốn kiến tạo một Tịnh xá để thỉnh Phật và chư Tăng
    sang đây diễn giáo, nhưng tìm mãi không ra chỗ. Nay Thái tử có vườn cây
    tốt, rộng rãi, xin Thái tử vui lòng nhường, miếng vườn ấy lại cho tôi, công
    đức của Thái tử thật vô lượng vô biên.
    Thái tử cả cười bảo: “Tôi đâu có thiếu thốn gì mà phải bán; vườn này để làm
    chỗ ngoạn thưởng trong khi nhàn rỗi, cho thư thả tâm hồn, bán đi thì làm thế
    nào?”.
    Ông trưởng giả Tu Ðạt năn nỉ mãi. Thải tử tánh dễ cảm, song vì tiếc miếng
    vườn nên định làm thối chí ông Tu Ðạt:
  • Nếu trưởng giả mua, xin đem vàng lót khắp mặt đất tôi sẽ bán cho.
  • Vâng.
    Thái tử hỏi hối:
  • Tôi nói chơi như thế, chớ bán đi thì làm gì.
  • Quân tử vô hý ngôn, Thái tử sẽ làm vua trị dân, nói bỡn sao được.
    Tu Ðạt bèn vội trở về nhà hối gia nhân chở vàng đến lót. Khi đã phủ xong
    nơi đất liền. Trưởng giả suy nghĩ coi phải làm thế nào để lót mấy nơi bị cây
    mọc choán. Thái tử đến gần vỗ vai hỏi: “Thế nào Trưởng giả suy nghĩ gì?
    Nếu ông chê mắc thì thôi vàng ông chở về vườn tôi xin trả lại cho ông”.
  • Không, tôi không nói mắc rẽ gì đâu, thưa Thái tử. Tôi đang suy nghĩ coi
    phải chở ở kho nào cho vừa đủ, khỏi đem đi đem về thất công và tính coi
    mấy gốc bao nhiêu vàng đấy chứ.
    Thái tử Kỳ Ðà nghe xong hết sức ngạc nhiên, tự hỏi Phật là người thế nào
    mà Trưởng giả coi của cải như không, xem vàng ròng như đất cục. Thật kỳ
    lạ quá… Có lẽ là một thánh nhơn, đạo cao đức cả mới có thể cảm hoá được
    lòng người như thế.
  • Thôi, Thái tử bảo, ông đừng chở vàng đến nữa, bây giờ đất vườn thuộc về
    ông, còn cây thuộc về tôi, tôi xin cúng cho Phật đấy.
    Trưởng giả vui sướng quá. Ngay ngày hôm sau kêu thợ đo đất khởi công,
    còn Xá Lợi Phất thì vẻ bản đồ và chỉ bảo cách thức.
    Song một trở ngại lại xảy ra. Phái Lục sư ngoại đạo Bà La Môn kéo nhau
    đến tâu vua Ba Tư Nặc: “Trưởng giả Tu Ðạt Ða mua vườn của Thái tử để
    kiến tạo Tịnh xá cho bọn Sa Môn Cù Ðàm xin bệ hạ cho phép chúng tôi
    cùng bọn kia tranh tài, nếu họ thắng được bọn tôi, chừng ấy họ mới được
    phép cất Tịnh xá và sang đây thuyết đạo, còn trái lại, thì ở đâu phải ở đó”.
    Nhà vua liền triệu Tu Ðạt Ða vào triều vào bảo rằng: “Hàng Lục sư Bà La
    Môn không chịu có phái nào khác truyền giáo. Nay khanh mau vườn cất
    Tịnh xá để rước đồ chúng của Ðức Cù Ðàm về đây dạy đạo. Lục sư vào tâu
    khi nãy, xin cho hai phái cùng nhau một trận thư hùng, nếu họ thua thì
    khanh tự ý muốn làm gì thì làm, còn nếu phe Cù Ðàm thua thì đừng bén
    mảng đến đây. Muốn cho yên thuận, ta đã hứa với họ rồi, vậy khanh lo liệu
    thế nào cho chu tất”.
  • Xin bệ hạ cho phép hạ thần trở về bạch lại với đệ tử của Ðức Phật xem sao.
  • Ðược, khanh cứ đi, muốn cho bọn họ và công chúng biết được giá trị của
    đôi bên, ngoài phương pháp đó, không còn gì hơn nữa.
    Trưởng giả cáo từ ra về, mặt luôn luôn dàu dàu, đầu óc miên man lo nghĩ:
    “Không rõ bên ta có thể thắng được không? Hơn chẳng nói gì, còn rủi thua
    thì khổ biết bao. Lục sư pháp thuật cao cường, lại bè lũ đông đảo, liệu một
    mình Ngài Xá Lợi Phất có đương cự lại chăng?”. Bao nhiêu câu hỏi làm
    lòng ông ngổn ngang lo sợ, đến nỗi về đến cửa nhà mà ông không hay.
    Trông thấy vẽ mặt đượm đầy u buồn, lo ngại của Tu Ðạt, Xá Lợi Phất bèn
    cất tiếng hỏi: “Hôm nay có việc gì mà Trưởng giả không được vui?”.
    Tu Ðạt rầu rầu đáp: Thưa Ngài công việc kiến tạo Tịnh xá sợ không thành
    tựu.
  • Tại sao thế?
  • Thưa Ngài, bọn Lục sư quyết lòng ngăn trở công việc làm của mình. Họ đã
    đến khiếu nại với vua, xin cho cùng chúng ta tranh thủ nếu chúng ta thắng
    họ thì mới được cất Tịnh xá. Vua đã chuẩn y lời của họ. Bây giờ trăm việc
    tôi xin trông cậy vào Ngài. Tôi lo lắm, bọn họ tu hành theo tiên đã lâu, tài
    nghệ pháp thuật cao cường, trong thành này ai cũng biết, thêm nỗi bọn họ rất
    đông, liệu mình Ngài có chống nổi chăng?
  • Trưởng giả đừng ngại. Tôi tuy một mình, nhưng ông có thấy chăng, chỉ
    một ánh sáng mặt trời đủ phá tan bao nhiêu bóng tối; cần gì phải đông. Ðồ
    chúng của Lục sư có nhiều đến bực nào cũng không làm chi tôi nổi. Trưởng
    giả cứ vững lòng tin tôi và tâu lại nhà vua xin định ngày đấu sức, không sao.
    Tu Ðạt nghe nhõm người, chạy bay vào cung, xin định ba hôm sau là mở hội
    tranh tài.
    Bọn Lục sư truyền rao cho tín đồ của chúng hảy đến xem cuộc đấu phép ít
    có mà phần thắng chắc chắn về phái họ. Vua Ba Tư Nặc cũng truyền lệnh
    cho dân gian và cho phép tam cung lục viện đến dự. Ðồng thời vua cho cất
    khán đài tại một miếng đất trống to lớn phía ngoài thành.
    Ðúng ngày giờ hẹn, trời vừa tang tảng sáng, bọn Lục sư đã lũ lượt kéo tới, cả
    dân chúng nữa, người người không thể tính số được. Giữa khán đài, vua và
    hoàng hậu ngồi ghế lớn, hai bên trăm quan và cung phi mỹ nữ đứng hầu, còn
    dân chúng chen nhau đứng phía dưới. Trước đài, tả hữu có hai đài khác,
    dành cho hai phái tranh thủ.
    Giờ đấu tài đã đến, bọn Lục sư thấy thế tuyên bố ầm lên: “Bọn Cù Ðàm sợ
    chúng ta rồi, đã tới giờ mà không thấy bóng hình đâu cả”. Tiếng bàn tán cải
    cọ thêm to. Có kẻ đánh bạo đến gần tâu vua: “Tâu bệ hạ, bọn đệ tử Cù Ðàm
    có lẽ tự biết mình vô tài nên không dám đến. Vậy xin bệ hạ kể họ như thất
    trận rồi”.
    Vua Ba Tư Nặc trầm tĩnh đáp: “Chưa gì mà các người đã vội ca khúc khải
    hoàn, hãy đợi một chút nữa xem nào”. Ðoạn vua xoay qua Tu Ðạt: “Tại sao
    thầy của khanh chưa đến, khanh hãy đi xem thử sao?”.
    Lúc ấy, Xá Lợi Phất đang ngồi thiền định dưới cội cây to, yên lặng suy nghĩ:
    “Hội chúng hôm nay phần đông theo tà giáo đã lâu, tà pháp đã thâm nhiễm
    vào trong óc của họ, nên họ đầy vẽ kêu mạn, tự cao. Làm thế nào mà cứu vớt
    họ? Phật đã dạy, trong khi truyền đạo, không nên dùng thần thông làm kinh
    dị lòng người, nhưng trong trường hợp này, nếu không dùng thần thông thì
    làm sao gây được tín tâm. Vậy xin Phật thấu hiểu và xá tội cho!”. Vừa nghĩ
    xong thì Tu Ðạt hấp tấp đến.
  • Bạch Ðại đức, công chúng đã nhóm họp đông đủ cả rồi, nhà vua đang chờ
    trông, xin Ðại đức quang lâm cho.
    Xá Lợi Phất bèn xuất thiền đứng dậy, sửa ngay y phục, vất tọa cụ lên vai, rồi
    oai nghiêm cất bước, từ từ tiến về phía diễn trường mà quang cảnh mà là
    một biển người, lô nhô đầu là đầu không hàng ngũ trật tự gì cả. Thế mà khi
    Xá Lợi Phất đến, công chúng lại tự dưng vẹt ra, chừa một đường khá rộng
    cho Ngài vào. Tu Ðạt ung dung theo sau khỏi chen lấn gì cả.
    Xá Lợi Phất đi đến đâu thì đám đông cúi chào, xa trông như một đồng lúa bị
    gió đùa. Còn bọn Lục sư, tuy lúc đầu đã dặn nhau không được tỏ vẻ kính nể
    nào, nhưng khi thấy vị đại đệ tử của Phật, tất cả như bị một sức mạnh gì ở
    thâm tâm thúc đẩy, đồng đứng dậy lễ phép chào như bao nhiêu người khác.
    Xá Lợi Phất chậm rãi thượng đài và an tọa. Vua Ba Tư Nặc liền ra lệnh cho
    hai bên đấu phép.
    Lao Ðộ Sai, tay huyền thuật giỏi nhất trong phái Lục sư, trổ tài trước. Công
    chúng đang lao nhao chờ đợi, bỗng thấy một cây đại thọ mọc lên giữa sân
    sừng sừng, to lớn một cách nhanh chóng khác thường, tàn che kín khắp vùng
    đất chiếm làm diễn trường.
    Ðồ chúng của Lục sư, biết là sự biến hóa của phe mình, lấy làm thích chí,
    trầm trồ khen ngợi vang rền. Tứ phía muôn mắt quay về hướng Xá Lợi Phất
    đang tĩnh tọa, đôi mắt lim dim như không hay thấy gì hết. Một phút, hai
    phút… Mọi người đều nóng ruột, nóng hơn hết có lẽ là Tu Ðạt Ða. Tiếng ồn
    ào vừa ngưng trong một hồi chờ đợi thắt thỏm, thì từ đôi mắt của Xá Lợi
    Phất hai luồn hào quang xẹt ra, bao luyện thân cây rồi cùng với thân cây
    biến mất trong chớp mắt. Tiếng hoan hô nổi dậy để tức khắc đổi thành tiếng
    kinh khủng: một con rồng nhiều đầu, thân thể to lớn dị thường, múa lộn trên
    hư không, giữa tiếng sấm sét vang tai điếc óc. Nhưng kìa, từ miệng của Xá
    Lợi Phất, một đạo bạch quang phóng ra, biến thành một con đại bàng, to gấp
    hai kẻ nghịch, xáp đến xớt rồng bay mất.
    Thua canh này bày canh khác, Lao Ðộ Sai bèn dùng mình biến thành một
    con quỷ Dạ Xoa kếch xù, trên đầu lửa cháy, mắt lồi, miệng đỏ, xồng xộ chạy
    lại đài Xá Lợi Phất, hung ác vô cùng. Trầm tĩnh vị đệ tử của Phật xòe bàn
    tay năm ngón dịu mềm: Năm vị Tỳ sa môn Thiên vương hiện ra, đứng bao
    bốn phía và trên không. Ðồng thời lửa tam muội đùng đùng nổi dậy, phủ vây
    con ác quỷ không phương đào tẩu. Lửa càng cháy, tiếng than khóc cầu tha
    mạng sống càng lớn. Tâm khinh mạn đã tan, bốn phía lửa dữ cũng hạ, Lao
    Ðộ Sai hoàn phục nguyên hình, dập đầu sám hối tạ tội. Xá Lợi Phất bèn bay
    vọt lên hư không hiện đủ bốn oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi hoặc hiện thân to
    lớn như hư không rồi lại hiện nhỏ, hoặc nữa, chia thân ra trăm ngàn thân
    khác rồi thâu trăm ngàn trở lại một. Xong, Ngài trở về chỗ cũ, ngồi yên,
    thuyết kệ rằng:
    Tâm sanh các pháp thảy đều sanh,
    Tâm diệt các pháp thảy đều diệt.
    Muôn ngàn nghiệp chướng thảy do tâm,
    Rồi cũng do tâm mà diệt nghiệp.
    Công chúng được xem các phép biến hóa và được nghe bài kệ rồi, nhảy nhót
    vui mừng như người nghèo được của báu.
    Nhân cơ hội ấy, Xá Lợi Phất dạy: Các pháp là khổ, là không, là vô thường,
    vô ngã; tất cả đều do tâm, tâm không dính mắc theo trần lao phiền não là
    Niết bàn tịch tịnh. Trong thính chúng bấy giờ có nhiều người nhớ lại nhân
    duyên trước của mình, phát tâm hướng về nẻo giải thoát, thấu được lý đạo,
    kẻ chứng quả Tu đà hoàn, người chứng quả Tư đà hàm v.v… Hơn ba ngàn
    đồ chúng của Bà La Môn đều làm lễ Xá Lợi Phất xin thọ giáo.
    Cuộc so tài đấu phép đến đây chấm dứt, vua truyền bế mạc. Công chúng lục
    tục ra về với bao vẻ hân hoan, mà người vui mừng nhất là Tu Ðạt.
    Mờ sáng hôm sau, người ta đã thấy Xá Lợi Phất, Tu Ðạt Trưởng giả và
    những công nhân kiến trúc có mặt tại vườn Kỳ Ðà, bắt tay vào việc. Tuy mệt
    nhọc nhưng mọi người đều vui vẻ sốt sắng.
    Một hôm, đi ngang nền Tịnh xá, Xá Lợi Phất bỗng nhiên dừng bước chỉ con
    kiến càng to lớn đang bò, bảo Tu Ðạt trưởng giả: “Một khi ta mất thân
    người, muôn kiếp khó hoàn phục. Con kiến này đã nhiều kiếp chết đi sanh
    lại nơi đây là chỗ bảy đời Phật hằng giảng pháp. Ông nên biết, dầu ở sát bên
    chỗ Phật nói pháp mà trót mang thân súc sanh thì có mắt cũng như đui, có
    tai cũng như điếc, không giải thoát. Còn làm người mà mê muội, cứ nhắm
    mắt chạy theo tiếng gọi của vật dục, tham luyến dục lạc hiện tiền, không
    chịu suy nghĩ, chỉ biết có ngày nay không tin nhân quả, đã vậy còn gây thêm
    nghiệp hủy bán chánh pháp, thì xét kỹ không hơn con kiến bao nhiêu, cành
    sống càng xa ánh sáng giác ngộ, khổ não trăm bề, sa đọa vào bậc thấp hèn
    đem tối. Thế nên sanh được làm người là một điều khó; là một đại bất hạnh
    khi đã được thân người mà không lo tu sửa để được lần về nẻo giải thoát,
    hoặc kiếp sau còn trở làm người cố công tu học, thì thật uổng cho một kiếp.
    Công trình kiến trúc vĩ đại quá, thành thử Xá Lợi Phất cũng như Tu Ðạt
    trưởng giả phải vất vả, cực nhọc suốt ba bốn thánh mới hoàn thành. Tu Ðạt
    bèn vào triều yết kiến vua Ba Tư Nặc trình các việc và xin vua phái sứ thần
    sang thành Vương Xá thỉnh Phật quang lâm. Vua y lời.
    Một buổi sáng trời quang gió mát, Ðức Thế Tôn cùng các đệ tử lên đường
    sang Xá Vệ, ngày đi đêm nghỉ nơi các khách xá của Tu Ðạt đã lo xa cho cất
    bước kia. Khi gần đến thành, vua quan cùng dân chúng ra đón cách một
    khoảng xa. Vào đến Tịnh Xá, Ðức Phật an tọa, mọi người làm lễ rửa chân
    cho Ngài và đi nhiểu ba vòng, rồi theo thứ cấp ngồi dưới chân quanh Phật.
    Ðức Thế Tôn phóng ra năm sắc hào quang rực rỡ chiếu khắp thế giới, đoạn
    Ngài diễn nói công đức bố thí, tu phước cho đại hội thính chúng nghe. Ai
    nấy đều được lòng dạ sáng tỏ vui vẻ vâng làm.
    Từ ấy, mỗi ngày Ðức Phật và các đệ tử vào thành khất thực, đến trưa về
    Tịnh xá thọ trai xong và thăng tòa diễn pháp cho các đệ tử hai phái cùng
    nghe. Số người theo về quy y đông vô kể.
    Chẳng những là một công trình xây dựng lịch sử, Tịnh Xá Kỳ Hoàn còn là
    một nhắc nhở lớn cho các hàng Phật tử tại gia về bổn phận hộ trì Tam Bảo.
    Xây dựng một ngôi chùa,
    Tức là đã phá huỷ một nhà lao.
    Thêm một đoàn thể học Phật,
    Tức nhiên bớt một số người tù tội.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s