Tỉnh Giấc Mơ Hoa


Tỉnh Giấc Mơ Hoa
Ðàn én bốn phương bay về, đem lại cho trần gian tin xuân vui đầm ấm. Ánh
triều dương sắc vàng rực rỡ, lần lần lan rộng, phá tan màu khói sương vẩn
màu sửa đục của buổi bình minh. Ðôi hàng cây bên vệ đường đã trút sạch
lớp áo vàng để thay vào những mầm non mập mạnh. Ngọn gió đông dịu mát
đầy sinh khí, nhẹ nhàng thổi lướt trên đám cỏ xanh. Thành Thất La Phiệt vào
buổi mai, âm thanh tràn ngập vẻ thanh hòa đáng mến.
Phút chốc vầng hồng đã lên cao.
Trên con đường lớn quanh co hướng dẫn vào thành, một đoàn Sa môn có
hơn nghìn người, đi nối tiếp nhau như con rồng lượn khúc. Các Tăng sĩ, vị
nào cũng có vẻ điềm tĩnh đoan trang, nhìn xuống lặng lẽ bước, dáng đi xem
tự tại thoát trần. Dẫn đầu là một bực Tôn túc, thân xác vàng ánh, tướng tốt
trang nghiêm, đi chậm rãi oai nghi như voi chúa. Sau đấng ấy một vị Tỳ
kheo trẻ tuổi ôm bát theo hầu. Ðấy là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng thị
giả A Nan và chư Tăng vào thành khất thực. Bấy giờ, những người có lòng
tin ngôi Tam Bảo, muốn gieo trồng giống phước, đem thức ngon vật lạ cúng
dường Phật và chúng Tăng. Lại có kẻ không dâng cúng, nhưng thấy dáng
điệu trang nghiêm siêu thoát của đấng Ðiều Ngự và các Ðại Ðức Tỳ kheo,
cũng họp nhau đứng nơi cửa trông ra, hoặc đứng bên đường để nhìn ngắm.
Từ nơi cửa sổ trên lầu cao, nàng Ma Ðăng Dà một bậc tài sắc trong thành
Thất La Phiệt, nghe tiếng động, khẽ vén bức màn thêu, đưa mặt nhìn xuống.
Nhưng sống với hương tình vị ái của tuổi xuân, nàng làm sao nhận thức
được sự giải thoát đức thanh cao nơi các nhà tu sĩ. Trông qua lớp áo hoại sắc
của những vị Sa môn, nhìn lại y phục sa hoa lộng lẫy nơi thân mình, nàng tự
thấy phong lưu sang trọng. Rồi kêu hãnh, nàng điểm trên môi một nụ cười.
Nhưng bỗng ngạc nhiên, Ma Ðăng Dà chăm chú nhìn vị Tỳ kheo trẻ tuổi
đứng hầu sau Ðức Phật. Ôi! giữa trần gian này sao lại có trang nam nhân đẹp
đến thế? Nàng tự nghĩ thầm nếu được cùng người này chung hưởng được
trăm năm, dù phải nghèo nàn, khổ nhọc, ta cũng ưng lòng, không còn ước
mong gì hơn nữa! Mắt vẫn nhìn, trí mãi suy nghĩ, Ðức Phật và chư Tăng đi
khuất từ lúc nào, nàng Ma Ðăng Dà còn ngồi ngơ ngẩn dường như không
hay. Ðến chừng định thần lại, nhìn ra khoảng đường vắng vẻ, nàng buông
một hơi thở dài, trên mặt lộ đầy vẻ bâng khuâng nhớ tiếc…
Không rõ A Nan xinh đẹp thế nào, mà Ðức Phật không cho ông mặc áo trần
vai, vì sợ hàng phụ nữ trông thấy động tình. Và Ngài Văn Thù Bồ Tát từng
khen tặng ông rằng: “Mặt như vầng nguyệt sáng, mắt tợ cánh sen tươi”. Thế
thì cô mỹ nữ kia yêu mến ông, điều ấy cũng không lấy chi làm lạ.
Nàng Ma Ðăng Dà từ khi trông thấy A Nan mối tình si dường như vấn
vương khó dứt. Mỗi ngày, nàng thường lên lầu, trông ra cửa sổ, chờ chư
Tăng đi khất thực, mong sao cho được thấy mặt người yêu. Sống trong tình
khát ái khó tỏ nỗi lòng, Ma Ðăng Dà tâm thần ngơ ngẩn, quên ăn uống,
biếng nói cười, gương mặt xinh tươi lần lần hóa ra tiều tụy. Thân mẫu nàng
thấy con có những trạng thái bất thường như thế, sinh nghi đôi ba phen gạn
hỏi. Không thể che giấu, nàng phải đem sự thật tỏ bày và van xin mẹ làm thế
nào cho mình khỏi thất vọng. Nghe xong, mẹ nàng lộ vẻ ngậm ngùi bảo:
“Con ơi! Ðiều con muốn khó thể thực hiện được. A Nan là người hầu cận
thân tín của ông Cù Ðàm ông ấy và những Sa môn đệ tử của ông có nhiều
phép thần thông kỳ diệu. Những bậc cao đức trong hàng lục sư còn phải
nhường họ, thì mẹ đâu có tài gì làm thỏa nguyện cho con. Hơn nữa, A Nan
là người thuộc dòng tôn quý, con của ông Hộc Phạn Vương, nếu không xuất
gia, có lẽ y thay thế cho thái tử Tất Ðạt Ða là vua trong một nước, mẹ con ta
là phận thấp đâu mong gì sánh được với người. Thôi con hãy xóa bỏ những
ý nghĩ ấy và khuây khỏa nỗi sầu khổ để cho mẹ vui lòng. Mất A Nan này sẽ
có A Nan khác, trong bốn phương thiên hạ lẽ không tìm được một người đẹp
như thế hay sao?”. Nghe mẹ nói, tuy lặng yên không đáp, song nàng Ma
Ðăng Dà thật trăm phần đau đớn. Trước kia, một tia hy vọng lập loè trong
trí, nay hiểu qua mọi nổi khó khăn, nàng tự cảm thấy như rơi vào cõi âm u
ghê sợ.
Tâm tư tràn ngập nổi buồn thương thất vọng, nàng thầm than: “Thôi, thế là
hết! Ðời ta đã đến giai đoạn kết cuộc từ hôm nay…”
Thế là bệnh của Ma Ðăng Dà mỗi ngày một nặng. Trong cơn mơ thấy A Nan
đi đến, nàng vô cùng mừng rỡ, vội chạy đến choàng vai, nhưng vị Tỳ kheo
trẻ tuổi nhẹ nhàng thoát khỏi tay nàng rồi biến mất; nàng cất tiếng khóc to
lên thì vừa thức giấc… Thân mẫu nàng thấy con khi mê khi tỉnh, thoạt khóc
thoạt cười, lấy làm buồn rầu lo lắng, một mặt khuyên dỗ, một mặt chạy chữa
đủ thứ thuốc thang, song vẫn không hiệu quả.
Một buổi sáng tà dương đang tiết trời dìu dịu, gió bên ngoài nhẹ thổi động
bức rèm thêu đùa không khí trong mát vào phòng; cơn sốt như được giảm
bớt, Ma Ðăng Dà lặng lẽ thức tỉnh. Nhìn lạy thân hình vỏ vàng gầy héo, lộ
vẻ chua cay, nàng nhẹ nhếch một nụ cười. Nhưng vừa khi ấy nàng bỗng
ngạc nhiên, vì nhận thấy hôm nay trong phòng trang hoàng rất sạch sẽ. Ðối
diện nàng bức họa: “Vườn xuân dưới nắng mai” được treo lên với vẻ mỹ
thuật. Và, chiếc lọ thủy tinh cắm đầy hoa tươi, ai đã đem đến đây để ngay
ngắn giữa mặt bàn như tấm thảm màu xanh da tươi. Ðể ý trông qua khe cửa,
Ma Ðăng Dà thấy mẹ đang ngồi tiếp chuyện với một vị đạo sĩ râu tóc bạc
phơ, vầng trán sáng suốt, nét mặt trầm ngâm. Hai người nói gì nàng không
nghe rõ, nhưng hình như xem mẹ nàng có vẻ chú trọng lắm, Ma Ðăng Dà
chưa hiểu, còn đang nằm yên suy nghĩ, thì nghe có tiếng giày của mẹ đi nhẹ
vào phòng. Nàng nhắm mắt giả vờ như không hay biết, tiếng giày đi lại bên
giường chợt im bặt hồi lâu, thốt nhiên nàng cảm thấy bàn tay từ mẫu đặt lên
trán mình và tiếp theo đấy, nối liền một giọng đều đều êm dịu: “Con ơi! Chớ
nên buồn rầu! Con là lẽ sống duy nhất của mẹ; với lòng quý mến con, mẹ có
thể hy sinh tất cả hạnh phúc trên đời. Vì thế vừa rồi mẹ có mời được một
đạo sĩ danh tiếng, ông đã truyền cho mẹ bài mật ngữ “Ta Tì La Phạm Thiên
chú”. Theo lời ông mật ngữ có năng lực mê hoặc người, dù người ấy đạo
hạnh đã đến mức cao siêu. Nếu học thuộc thần chú này, con có thể thực hiện
nguyện vọng của mình bằng cách mê hoặc A Nan, khiến cho y mất sức tự
chủ và hoàn toàn bị sai sử tùy theo ý con muốn”. Máu nóng chảy rần rật
trong huyết quản, Ma Ðăng Dà như cảm thấy có một nguồn sinh lực mầu
nhiệm làm cho nàng mạnh mẽ hơn hồi chưa bệnh, sau khi nghe được mấy
lời ấy; gương mặt tươi tỉnh hẳn lên, nàng nói với giọng run run vì sung
sướng, cảm động: “Thật thế hở mẹ? Nếu vậy bệnh con sẽ lành và con không
còn lo buồn gì nữa!”. Rồi nàng trỗi dậy gọn gàng như người vô sự.
Nửa tháng sau, khi sức khẻo gần bình phục, Ma Ðăng Dà đã thuộc làu làu
bài mật ngữ. Nàng còn chờ một thời gian ngắn cho trong người thật mạnh sẽ
thi hành ý nguyện, lòng chứa chan hy vọng, tin chắc thế nào mình cũng đắc
thắng bằng hai lợi khí: nhan sắc và thần chú nhiệm mầu. Rồi, một buổi sớm
mai, nàng trang sức rất đẹp, sắm sẵn những thức cúng dường để gợi ý trung
nhân. Nhưng bóng ác càng cao, Ma Ðăng Dà càng nhìn trông mỏi mắt và
cuối cùng phải thất vọng, vì đã quá ngọ mà vẫn vắng bóng hành khất của
chư Tăng. Hoài công chờ đón như thế đến bốn năm hôm, hỏi ra nàng mới
biết lúc này vào đầu mùa mưa, chư Tăng theo lệ thường mỗi năm phải ăn cư
một chỗ trong vòng ba tháng. Nghe được tin ấy, nàng âu sầu khổ não, song
cũng phải dằn lòng đợi dịp, không biết phải làm thế nào.
Lá tươi rồi héo, hoa nở rồi tàn, cảnh vật âm thầm biến chuyển mau lẹ theo
cánh thời gian, thấm thoát đã đến ngày chư Tăng mãn hạ. Ðối với nàng Ma
Ðăng Dà, ba tháng thật là mấy năm trường đằng đẳng! Nhưng việc sẽ đến tất
phải đến, hôm nay nàng sẽ cảm thấy sống dậy một mùa xuân tươi đẹp mùa
xuân ở cõi lòng. Từ sáng sớm, những thức cúng dường đã được sắp đặt đâu
vào đấy. Công việc xong xuôi, Ma Ðăng Dà đến trước gương trang điểm,
vừa đọc nhẩm mấy câu Phạm chú. Vẻ vui tươi đắc ý hiện rõ trên mặt nàng.
Giai nhân lồng bóng trong gương, hai dáng xinh đẹp in nhau, phưởng phất
như cành hoa Tịnh Ðế. Khi ánh nắng mai chiếu vào song cửa, trên con
đường vào thành, hình dáng của đoàn Sa Môn đi khất thực lần lần lộ rõ và
cũng lại gần, Ma Ðăng Dà vô cùng mừng rỡ, định thỉnh riêng ông A Nan
đến trước nhà để tiện bề dùng huyển thuật. Nhưng lần này nàng rất ngạc
nhiên, vì không thấy vị Tỳ kheo trẻ tuổi theo hầu Ðức Phật. Thêm một điều
lạ: chư Tăng cùng đi thẳng, không dừng lại từng nhà để thọ cúng như mọi
khi. Ma Ðăng Dà để ý nhìn từng vị Sa Môn lần lượt đi qua, nhưng cũng
không thấy người mình muốn gặp. Mỗi nỗi buồn vô tả xâm chiếm tâm nàng,
khi vị Sa Môn cuối cùng vừa đi khuất. Nàng để rơi mình xuống ghế, hai tay
bưng mặt, choáng váng cả tâm thần. Không biết ngồi như thế được bao lâu,
khi ngước đầu lên, Ma Ðăng Dà chợt thấy từ xa tiến đến một hình dáng quen
thuộc. Nàng mở to đôi mắt nhìn kỹ người ấy không ai đâu lạ, chính là vị Tỳ
kheo trẻ tuổi mà nàng đã thương nhớ từ lâu. Lòng rạo rực, nỗi vui mừng
không thể tưởng tượng, nàng vội vả đứng dậy đón chờ.
Tại sao lại có việc như thế?
Nguyên vào lúc các thầy Tỳ kheo mãn hạ, nhân ngày kỵ phụ vương Ba Tư
Nặc sắm những thức ăn quí lạ, mời Phật và chư Tăng thọ trai trong hoàng
cung. Ðức Thế Tôn thân lãnh các vị Tỳ kheo thẳng đến cung vua để ứng
cúng, nên không theo thường lệ đi từng nhà khất thực. Duy có ông A Nan
trước đã chịu người mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng trai chung.
Vì về trễ, ông đi giữa đường một mình. Nhớ lời Ðức Phật đã quở Tôn Giả
Ma Ha Ca Diếp và Tu Bồ Ðề làm A La Hán tâm không quân bình, ông kính
vâng lời dạy vô giá của đấng Ðiều Ngự, ôm bát theo thứ lớp ghé vào từng
nhà, kính giữ phép hoá trai.
Khi A Nan đi đến, nàng Ma Ðăng Dà đem thức ăn ra cúng dường đồng thời
gọi thầm tên vị Tỳ kheo trẻ tuổi và đọc mấy câu Phạm chú, đoạn nàng xây
lưng trở vào nhà.
Tay chân bủn rủn, thần trí không định, A Nan cũng nối gót theo sau. Lúc hai
người đã vào đến phòng, như cây héo gặp mùa xuân, Ma Ðăng Dà giở đủ trò
khêu gợi quyết tâm làm nổi dậy ngọn sóng tình trong con người tịnh hạnh.
Trong giờ phút nguy hiểm ấy; tuy bất lực, song cũng còn tỉnh trí, A Nan tha
thiết tưởng nghĩ: “Hỡi Ðức Từ Nghiêm! Nay con bị nạn, Ngài đành bỏ con
sao?”.
Khi ấy Ðức Như Lai thọ trai xong, đã về đến tịnh xá và đang ngồi thuyết
pháp giữa vô số thính chúng. Ðấng Từ Nghiêm trí tuệ thần thông nghe thấy
ông A Nan mắc nạn, liền từ nơi nhục kế trên đảnh, phóng ánh sáng trăm thứ
báu rất tự tại nhiệm mầu. Trong ánh sáng có vô số hóa Phật, mỗi vị đều ngồi
trên toà sen nghìn cánh, đồng thời nói ra thần chú bí mật. Ðức Như Lai
khiến Ngài Văn Thù phụng trì chú ấy, đến dẹp trừ tà chú đem ông A Nan về.
Ngài Văn Thù vâng lời đến, phóng áng sáng nói lại thần chú bí mật. Bấy giờ
ông A Nan tâm trí sáng suốt, như cá đã thoát khỏi lướt, vụt chạy ra ngoài.
Chưa được thỏa nguyện, bỗng mất người yêu, Ma Ðăng Dà cũng chạy theo
A Nan tâm trạng như người cuồng dại. Khi ba người đã đến Tịnh xá, lòng si
ái quá nặng, Ma Ðăng Dà sầu khổ bạch với Phật: “Xin Ngài trả ông A Nan
lại cho tôi”. Ðức Phật mĩm cười, dùng phương tiện bảo: “A Nan là kẻ xuất
gia, nàng là thế tục, hình thức và đời sống của đôi bên đều khác, thế thì làm
sao gần gũi nhau được? Nếu nàng chịu cạo tóc, mặc áo cà sa, ta sẽ giao A
Nan lại cho”. Trước tiên, Ma Ðăng Dà còn dùng dằng, nhưng bị ái tình làm
mù quáng, đã thương trót phải liều, nàng nghĩ thầm: “Nếu Phật không giữ
lời hứa, ta sẽ nắm áo Ngài và ông A Nan”.
Nghĩ như thế nàng liền ưng thuận, sau khi đã thành hình thức xuất gia, Ma
Ðăng Dà lập lại yêu cầu khi trước, Ðức Phật không đáp hỏi lại:

  • Nàng thương A Nan vì chỗ nào?
  • Tôi thương đôi mắt xinh đẹp của ông.
  • Mắt của A Nan chỉ là hai khối thịt hôi, trong ấy chứa những nước mắt,
    ghèn dơ, có chỗ nào tinh sạch đặng cho nàng mến?
  • Tôi thương cái mũi ông A Nan.
  • Mũi của ông ấy có những chất nhớp bên trong và thường chảy ra thứ nước
    không sạch, nàng chẳng nên ưa thích.
  • Tôi thương cái miệng ông A Nan.
  • Miệng của A Nan có những nước miếng, đờm, dãi, nếu ông ấy không năng
    súc rửa, nơi đó sẽ đóng cáu bợn và tiết ra mùi hôi. Thế thì không đáng cho
    nàng yêu chuộng.
    Sau khi đánh tan những chỗ ái chấp của Ma Ðăng Dà, Ðức Phật lại vì nàng
    giải thích, chỉ rõ thân người không sạch, mong manh chóng suy tàn, là
    nguyên nhân của sự đau buồn trong hiện tại và vô lượng nỗi khổ về sau.
    Nghe lời chánh chơn hợp lý của Ðức Phật, như người trong bóng tối chợt bắt
    gặp ánh sáng, Ma Ðăng Dà đứng lặng suy nghĩ. Trước kia nàng lầm tưởng ái
    tình là vườn hoa tươi đẹp, đầy màu sắc rực rỡ, hương vị thơm tho, nơi ấy
    hẳn hứa hẹn cho thế gian một diễm phúc tuyệt trần. Nhưng hôm nay nhìn
    sâu vào thực tế, nàng mới biết nó là một mũi gai độc ẩn núp dưới lớp lá
    xanh; một sợi dây vô hình lôi kéo người vào ngục tối đau khổ, Tỉnh Giấc
    Mơ Hoa, nàng quan sát những lý: bất tịnh, khổ không, vô thường, vô ngã
    của Ðức Phật vừa khai thị, liền chứng được quả A Na Hàm. Vừa mừng rỡ
    vừa tủi thẹn, nàng cúi xuống đảnh lễ Ðức Thế Tôn, xin trọn đời làm đệ tử và
    phát nguyện sẽ dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi vòng hoa mộng, vào bản thể
    an vui trong sạch…

Thuật giả: Trí Hiền

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s