Lời nói thật


su that

Vua  nước Thiên La ở Ấn Độ tên  là Ba La Ma  Đạt, tính tình ôn  hòa,  rất thương yêu  bảo bọc dân, thưởng phạt công bình nên  được mọi người tôn kính.

Ông  sinh được  một  người  con  trai đặt  tên  là  Ban Túc.  Thái tử  Ban  Túc  tính tình hoàn toàn trái ngược với vua  cha.  Càng lớn càng  khoẻ mạnh lực lưỡng  nên thái tử  vô cùng  kiêu  ngạo,  vì  thế  nhiều vị  đại  thần tránh không muốn thân cận với thái tử.

Lúc còn trẻ,  thái tử thay mặt vua  cha đi chinh phục các  nước  lân  bang, lập  được  chiến công  nên  sự  kiêu ngạo  càng  gia tăng tới mức cuồng  ngạo  không coi ai ra gì, thậm chí tới phụ  vương ông cũng  coi thường.

Ngày  đăng vị, thái tử  đã  khoe  với mọi  người  rằng mình sẽ lén phụ  vương đi chinh phục  các nước và sẽ lấy đầu  của 100 ông vua  các nước nhỏ để hiển dương võ lực trên đời có một không hai  của mình.

Vua  các nước nhỏ  lần  lượt bị thái tử bắt  nhốt trong một  hang động  trong núi,  một  ông, hai  ông, mười ông, hai  mươi  ông,  cứ thế  tăng lên  cho tới 99 ông.  Thái tử rất vui mừng, chỉ cần đem binh đi chinh phạt một nước nữa  là sẽ bắt  được một ông vua khác cho đủ số 100 ông.

Nước  bị  thái tử  chinh phạt để  bắt   ông  vua   cuối cùng  ấy là một  nước nhỏ  cách  nước Thiên La  khoảng hơn ngàn dặm. Vua  nước ấy tên  là Phổ  Minh, vua  này không chủ  trương chiến tranh nên  không hề chuẩn bị kháng chiến, vì thế  nên  khi  thái tử Ban  Túc dẫn  binh vào chiếm thành, dân  chúng xứ này  không hề hay  biết, cho đến  khi  vua  Phổ Minh bị bắt  trói  đem  đi.

Thái tử đưa  vua  Phổ  Minh tới nước Thiên La, giam cùng  với 99  ông  vua  trước  trong sơn  động,  nhưng từ nước  Thiên La  tới  núi,  vua  Phổ  Minh không ngừng khóc  lớn,  nước  mắt tuôn như  mưa. Thái tử  Ban  Túc thấy thế  rất bực mình, nghiêm khắc trách mắng:

– Cái  thứ  gà  ướt  phải mưa, vậy  mà  cũng  đòi  làm vua!  Ông là vua  một  nước mà  sao lại khóc lóc như  con nít,  thật là không thể  tưởng  tượng  được!

Vua  Phổ  Minh nghe thái tử  Ban  Túc  trách mắng như  thế  cũng  lấy  làm  bực mình, bèn  trả lời một  cách nghiêm nghị:

– Ông  không biết  nỗi  khổ  của  tôi,  tôi  không hề  sợ chết, mà  chỉ sợ mất lòng  tin  của  người  khác, vì tôi trị nước  lấy  câu  “thật ngữ  đệ  nhất” làm  tôn  chỉ.  Đối với quốc dân  tôi chưa  một lần  nói dối. Tôi cai trị nhân dân cả  nước,  hết  lòng  giữ  gìn  giới “không  nói  dối”, vì thế chúng tôi tin  tưởng  lẫn  nhau, chưa  hề có chuyện người này  nghi  kỵ người kia.

Nói tới đây,  ông  đau  lòng  buông  một  tiếng thở  dài rồi nói tiếp:

– Vài ngày  trước,  có một vị tỳ-kheo đến  hoàng cung muốn độ hóa  cho tôi xuất gia,  tôi đã  nhận lời rồi,  hẹn ngài  ấy trở lại trong một tuần nữa  để xuống  tóc cho tôi. Nay ông bắt  giam  tôi ở đây, làm sao tôi giữ lời hứa  được bây  giờ? Đó không phải là làm  mất lòng tin  của  người khác hay  sao?

Nghe  vua  Phổ  Minh kể  như  thế,  tuy  thái tử  Ban Túc là một  kẻ hung ác tàn nhẫn nhưng vẫn  thấy cảm động  trước  một  người  quý  trọng lời hứa  hơn  cả  sinh mệnh của mình. Cuối cùng  thái tử gật  đầu  nói:

– Được rồi! Tôi thả ông về giải quyết vấn  đề của ông xong xuôi, cho ông được mãn nguyện. Nhưng nội trong vòng  7 ngày, giải  quyết vấn  đề  xong  ông  phải trở  lại đây,  ông có đồng ý không?

Vua Phổ Minh mừng rỡ chảy  nước mắt trả lời:

– Cám  ơn ông! Bảy ngày  là đủ cho tôi lắm,  tôi sẽ giải thích rõ mọi chuyện cho vị tỳ-kheo rồi chắc chắn sẽ trở lại đây.

Thái tử Ban  Túc bèn cấp cho vua  Phổ Minh một con ngựa nhanh nhẹn để vua  mau chóng trở về vương quốc của  mình. Khi  về tới  hoàng cung,  việc  thứ  nhất, vua Phổ  Minh nhường ngôi  cho con trai lớn,  giao  hết  mọi trách nhiệm cho thái tử rồi xin lại lời hứa  cũ với vị tỳ- kheo, áy náy  thưa rằng:

– Lúc trước tôi nhận lời xuất gia với thầy, nhưng nay không làm  được.  Đó không phải do tôi  không giữ  lời, cũng  không phải tôi đổi ý không muốn xuất gia, mà  là vì…

Vua  đem  chuyện bị thái tử  Ban  Túc bắt  và lời hẹn phải trở  lại  trong 7 ngày, kể hết  cho vị tỳ-kheo nghe. Vị tỳ-kheo không còn cách nào hơn là bỏ ý định độ cho vua  xuất gia.

Cuối  cùng,  vua  tập  họp hết  tất cả dân  chúng trong sân  hoàng cung  để từ biệt.  Không  có một  người  nào  là không đau  lòng  rơi  nước  mắt, ai  nấy  đều  quỳ  xuống van  nài  giữ vua  lại, nhưng vua  Phổ Minh vui vẻ nói:

– Lời nói  thật là  giới đệ nhất, là  cái  thang bắt  lên cõi trời,  còn kẻ nói dối sẽ bị đọa địa  ngục.  Người  quân tử luôn  nói lời chân thật. Ta nay  giữ lời hứa, thà xả bỏ thân mệnh mà tâm không hối hận.

Nói  xong,  vua  quất ngựa bắt  đầu  ngay  cuộc hành trình trở về, tới trưa ngày  thứ  bảy  ông bước vào trong cung  thành của  nước Thiên La,  chạy  đến  chỗ của  thái tử Ban  Túc để báo tin  mình đã có mặt.

Thái tử  Ban  Túc đang vui  say  dục  lạc,  nghe nói có vua  Phổ  Minh trở lại thì  lấy làm  ngạc  nhiên và không khỏi  cảm  thấy kính phục. Ông  vội vàng  chạy  ra đến cửa cung  điện,  nắm tay  vua  Phổ Minh mà nói:

– Ngài  thật là một người tôn trọng lời nói của mình, tôi  vô cùng  kính phục. Tôi thả ngài  trở  về nước  như ngựa thoát chuồng, tại sao còn tự ý trở lại? Lời nói thật quả  là một  điều  cao cả và đáng kính, tôi sẽ truyền bá tôn  chỉ “thật ngữ  đệ nhất” này  trong khắp cả nước tôi, để  mọi  người  được sống  bình an,  hòa  thuận và  hạnh phúc.

Nói  xong,  ông  thỉnh vua  Phổ  Minh lên  đài  cao  để giảng về giới “không  nói dối” cho đại thần và nhân dân trong nước Thiên La nghe.

Vua  Phổ  Minh tán thán lời nói thật, chê bai  sự nói dối, được cả vạn  người ở dưới đài cổ võ hoan hô.

Lúc  ấy  thái tử  Ban  Túc  mới  thấm thía một  điều, “tuy  ta dùng võ lực đi chinh phục  nhiều nước,  thế  mà dũng khí anh hùng ấy chưa  từng được dân  chúng hoan hô như  vậy. Thế  mới biết  là lời nói thật khiến người ta cảm động, ái kính, ghi khắc trong lòng không quên, còn võ lực thì  tuyệt đối không thu phục  được lòng  người. Trong vai trò một ông vua,  ta không nên  áp dụng chính sách  võ lực bạo ngược”.

Nghĩ thế  xong, ông bèn thả 99 ông vua đang bị giam cầm trong núi  cho về nước hết.

Từ đó, nước Thiên La  ban  hành giới không nói dối và  thực  hành tôn  chỉ  “thật ngữ  đệ nhất”. Cũng từ  đó trong nước ấy được quốc  thái dân  an,  mọi người  sống chung đầm  ấm yên vui.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s