Tâm độc địa


tam doc dia

Trong  xã hội ngày  xưa  có một  tập  tục  rất xấu,  đó là  khi  hai  vợ chồng  cưới nhau được  vài  năm, nếu  người  vợ chưa  sinh sản  được  thì người chồng  thường cưới thêm vợ lẽ, khiến cho hòa khí trong gia đình vì thế  mà tan nát.

Thời  xưa  có một  người,  cưới vợ được mấy  năm rồi, hai vợ chồng thèm khát một đứa con mà chờ mãi không có, người  chồng  nóng  ruột quá  nên  cuối  cùng  đi  cưới một  cô vợ lẽ. Với sự thỏa thuận của  bà vợ lớn, cô vợ lẽ được về ở chung trong cùng  một nhà.

Không  lâu  sau  cô này  sinh hạ được một đứa con trai trắng trẻo  và  bụ  bẫm,  khiến người  chồng  hết  sức  vui mừng. Từ đó ông lại  càng  cưng  quý  cô vợ lẽ và thằng con trai mà không ngó ngàng gì đến  bà vợ cả.

Ngay  từ phút đầu, bà vợ cả đã xem cô vợ lẽ như  cái gai trong mắt, huống chi bây giờ thấy chồng  cưng  quý mẹ  con cô này  hơn  trước,  dĩ nhiên bà  không khỏi  nổi cơn ghen tức.  Nhưng trước  quyền uy  của  ông  chồng, bà không làm  gì được, chỉ có thể  thừa lúc người  chồng vắng  nhà mới hơi tỏ lộ ra chút ghen hờn,  giận  tức  đối với người  vợ lẽ. Tuy  nhiên những cơ hội  ấy  rất hiếm, cho nên  lòng oán  hận của  bà càng  lúc càng  chồng  chất nhiều thêm.

Một  hôm,  đứa  bé vừa  đúng hai  tuổi,  bà  vợ cả thừa lúc  cô vợ lẽ vắng  mặt mới rút một  cây  trâm vàng  cài trên tóc cắm  sâu  vào đầu  đứa  bé. Bà  làm  chuyện này một  cách  âm  thầm bí mật, không ai hay  biết.  Đứa  bé khóc mãi  không ngừng nhưng không ai nghe thấy, cho nên  đứa  bé trắng trẻo  bụ bẫm  kia,  chỉ sau  một đêm lên cơn sốt thật nặng đã yểu mệnh mà chết.

Thấy đứa  con  mình mang nặng đẻ  đau   lại  kháu khỉnh dễ  thương đến  dường  ấy  bỗng  nhiên một  hôm ngã  lăn  ra chết, người  mẹ nào  mà  không đau  đớn? Cô vợ lẽ bị tai nạn giáng xuống  đầu  một  cách  thình lình như  thế  khóc thương bi thảm, thằng con chết  cả tháng rồi mà cô vẫn còn gào khóc thảm thiết, tâm can tan nát cho đến  ngã  bệnh.

Người  chồng  thấy con  mình chết  yểu  dĩ  nhiên là thương tiếc  vô cùng,  nhưng ông  bình tĩnh hơn,  nghĩ rằng người  đã  chết  thì  nào  có sống  lại  được,  khóc  lóc chẳng ích  lợi gì. Tuy  nhiên có rất nhiều người  bà  con láng  giềng  nói rằng một đứa bé chết  thình lình  như  thế chắc chắn là phải có nguyên do, họ bèn khuyên cô vợ lẽ mở quan tài để khám nghiệm tử thi.

Quả   nhiên mọi  người  đoán   không sai,  lúc  khám nghiệm mới thấy trong đầu  của đứa  bé có cắm một cây trâm vàng  dài cả ba tấc!

Cô vợ lẽ thấy con mình chết  vì bị sát hại  thì  lại càng đau  khổ hơn, vừa bi thương vừa căm phẫn, cô thề  rằng sẽ  báo  thù cho  con,  nếu  không thì  chết  không nhắm mắt.

Cô tìm  một  vị  Bà-la-môn để  thỉnh giáo,  hỏi  xem phải làm thế  nào để báo thù. Vị này bảo cô nếu  trì được trai giới thì  sẽ được mãn nguyện. Lòng thương con của cô càng  tha thiết thì  ý nguyện báo thù càng  thâm sâu, cô bèn trì trai giới rất tinh cần.  Không  lâu  sau, cô vợ lẽ này  vì quá  sầu  muộn nên  lìa bỏ cõi đời.

Cũng đúng lúc ấy bà  vợ cả thụ thai nên  vui  mừng khôn  kể xiết.  Cây gai trước  mắt đã nhổ được rồi, chính mình lại đang có thai nên  có thể  được chồng  yêu chiều hơn, niềm  vui của bà thật là không cùng  tận!

Không  lâu sau  bà sinh hạ được một đứa con gái xinh đẹp  như  hoa  như  ngọc,  cả nhà cưng  quý  đứa  bé như châu báu, nhưng bất  hạnh thay, đứa  bé vừa  được hai tuổi  thì  lìa đời.

Thật là một tai biến  không ai có thể  ngờ được, bà vợ lớn khóc đến  chết  đi sống lại, nhưng người đã chết  rồi, biết  làm  sao đây?

Một thời gian  sau  bà lại sinh được một đứa  con trai, nhưng nuôi  chưa  đến  ba tuổi  cũng  đã chết  yểu.

Cứ  như  thế,  bà  sinh được  sáu  đứa  con  nhưng chỉ nuôi  được đến  bảy tuổi  là tối đa.  Con cưng  mà  lại chết yểu,  làm  cha  mẹ  ai lại  không đau  đớn?  Ròng  rã mười năm trời  như  thế,  người  vợ lớn sinh được đứa  con nào là đứa  con ấy chết  yểu  nên  đau  khổ  triền miên, thân thể  tiều tụy, bà  tuyệt vọng  tự  giam  mình suốt  ngày trong nhà không muốn tiếp  xúc với người ngoài.

Một hôm,  bỗng nhiên có một vị tỳ-kheo đến  tìm  bà. Ban  đầu  bà  từ  chối  không chịu  ra gặp,  về sau  vị tỳ- kheo bảo là có chuyện quan trọng muốn nói với bà, bà mới chịu  ra.  Khi  vị tỳ-kheo nhìn thấy bà,  ông liền  hỏi ngay:

– Bà có nhớ cô vợ lẽ đã chết  rồi không? Cô ấy vì sao mà chết?  Rồi đứa  con mới lên hai  của cô ấy, cũng  vì sao mà chết  vậy?

Câu  hỏi đặt  ra quá  bất  ngờ khiến bà vợ cả hoảng sợ, toàn thân run lẩy bẩy,  không trả lời được câu  nào.  Bà xấu  hổ và đau  đớn kể lại  mọi sự cho vị tỳ-kheo nghe, và cầu khẩn ông cứu khổ cho bà.

Vị tỳ-kheo nói cho bà biết rằng sáu  đứa con chết yểu của  bà chính là oan  hồn  cô vợ bé đầu  thai về cố ý làm cho bà khổ đau. Nếu  bây giờ bà muốn giải  trừ  mối oan gia đó, bà phải đến  chùa làm  công quả  để tiêu tai.

Ngày hôm sau, bà vợ lớn tuân theo  lời dạy của vị tỳ- kheo, trời  vừa  tảng sáng là bà thức  dậy  sửa  soạn  đến chùa, nhưng trên đường  đi,  bà  thấy một  con rắn độc đang hả  miệng thật lớn,  phăng phăng trườn đến  gần bà  khiến bà  sợ quá  ngã  xuống  bất  tỉnh. May  thay, vị tỳ-kheo nói trên cũng  vừa đến  nơi, nói với con rắn độc:

– Này  rắn độc! Ngươi  chưa  thấy mãn nguyện sao? Ngươi nghĩ  lại xem,  bà ấy chỉ hại  ngươi có một  lần  mà ngươi  báo  thù tới  sáu  lần,  như  thế  chưa  đủ  rồi  hay sao?  Bây  giờ bà  ấy  đã  biết  hối  hận, lại  còn muốn lên chùa làm  công  đức  hồi  hướng  cho  ngươi,  ngươi  cũng nên  hóa  giải  mối oan  kết  ấy đi. Ngươi  không nghe nói “oán cừu nên  cởi không nên  kết” chăng? Nếu  hôm  nay ngươi muốn giết  bà ấy thì  chẳng có ích lợi gì cho ngươi mà  chỉ có hại.  Vì tương  lai của  chính ngươi,  ngươi  nên bỏ qua  hết  mọi sự đi! Không  lẽ ngươi muốn đời đời kiếp kiếp  sinh làm  súc sinh hay  đọa địa ngục?

Câu  nói của  vị tỳ-kheo khiến con rắn độc có vẻ như hiểu ra,  nó cúi đầu  rồi từ từ trườn đi mất.

Bà  vợ cả tỉnh dậy  không thấy con rắn độc nữa, vị tỳ-kheo mới đem  chuyện vừa  qua  kể cho bà  nghe. Do đó bà vợ lớn cảm  thấy chuyện mình làm  lúc trước  quá ư tội  lỗi, bà  bèn  xin  xuất gia  tu hành với vị tỳ-kheo. Những năm cuối của  cuộc đời, bà sống  trong rừng sâu núi  thẳm để sám  hối  nghiệp chướng mà  mình đã  tạo trong quá  khứ.

Hại  người  là tự hại  lấy chính mình, làm  sao không cẩn thận chuyện nhân quả cho được?

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s