Làm vua bảy ngày


lam vua bay ngay

Nước Ấn Độ có một  vị vua  nổi tiếng nhất, tài ba  nhất, đức  độ nhất, và  được  dân chúng kính trọng ngưỡng mộ nhất, đó là  vua  A Dục. Sau  khi  Phật nhập Niết-bàn chừng một  trăm năm, vua  A Dục đã thống nhất nước Ấn Độ và để lại cho đất nước này  một trang sử huy  hoàng.

Vua  A Dục là một  vị Phật tử thuần thành. Lúc còn tại vị, không những ông  dốc lòng  tin  tưởng  đức  Phật mà còn hết  sức tích  cực lo việc truyền bá Chánh pháp.

Để phát khởi  lòng  tin  của  dân  chúng đối với Phật pháp, ông đã  mất không biết  bao nhiêu là tâm trí lẫn công  sức,  tiền tài vào  việc  lập  tháp cúng  dường  đức Phật ở khắp mọi nơi.

Ngày  hôm nay,  nước Ấn Độ còn lại rất nhiều di tích của những chùa và tự viện lớn. Rất nhiều trong số đó là những kiến  trúc được xây lên từ thời vua  A Dục.

Vua  hết  sức  nhiệt tình trong việc truyền bá  và  tự mình tu tập  Phật pháp nên  bản  thân có được một cuộc sống  rất phong phú  và an  vui.  Điều  làm  cho ông buồn tiếc  nhất là người  em tên  là Thường Tu, người  em của ông,  không những không tin  Phật mà  còn tin  theo  tà giáo, đi đến  đâu  cũng  hủy  báng Phật pháp. Vua A Dục thường khuyên răn ông, nhưng Thường Tu rất cố chấp, vua  không biết  phải xử trí bằng cách nào.

Một hôm  trời  tối, Thường Tu bước vào hoàng cung, nói với vua  A Dục rằng:

– Vương huynh! Hôm nay  đệ khám phá  ra một điều và  nghĩ  tới  một  số vấn  đề,  không biết  có thể  nói  với vương huynh không?

Thường Tu nói xong, mở to hai  mắt nhìn thẳng vua A Dục, đợi lệnh của vua.

– Thường Tu!  Hiền đệ  là  người  em  mà  ta thương mến  nhất, từ trước  tới giờ ta không hề có sự phân biệt với hiền đệ, đệ nên  thường giúp  ta trong việc trị nước mới phải, vậy có chuyện chi mà  đệ không nói được với ta chứ? Đệ muốn nói gì thì  cứ nói đi!

Thường Tu bèn tỏ ra rất nghiêm chỉnh:

– Vương huynh! Đệ muốn nói với vương  huynh một vài  lời  trung thật. Huynh đối  với  mấy   ông  tỳ-kheo Phật giáo quá  đỗi cung  kính, quá  đỗi ủng  hộ mấy  ông ấy,  coi chuyện Phật sự  còn quan trọng hơn  việc quốc gia.  Đệ thấy mấy  ông tỳ-kheo chẳng có gì xứng  đáng cho vương  huynh cung  kính tôn  trọng như  thế  cả, nên đệ khuyên vương huynh nên  coi trọng việc nước hơn.

Những lời hủy báng của Thường Tu, vua A Dục nghe như  những mũi  tên  đâm  vào tim,  trong lòng rất buồn nên  vội vàng  ngăn lại rằng:

– Thường Tu,  đệ hãy  ngừng ngay  những lời nói ấy. Hủy  báng Tam  Bảo là có tội. Đệ không hiểu sự cao quý của các vị tỳ-kheo, họ là những người đã đoạn  trừ  được ái dục,  xa lìa  thân quyến để xuất gia  cửa Phật, khoác áo cà-sa, hoằng pháp lợi sinh, tìm  cầu  sự  an  lạc  cho nhân dân, cho xã hội. Phật giáo có hưng thịnh thì  đất nước mới ổn định được.

Nghe những lời của vua A Dục, Thường Tu đã không đồng ý mà còn nói rằng:

– Vương  huynh! Huynh không nên  tin  họ như  thế, cúng  dường  mấy  ông  tỳ-kheo ấy  thì  có lợi ích  gì? Đệ thấy không những vô ích cho quốc  gia,  mà  còn có hại đối với nhân tâm. Cả ngày  họ không làm  việc, ngồi đó mà  hưởng  phúc, không lẽ dân  chúng không muốn bắt chước  sống  như  thế  hay  sao?  Hơn  nữa, huynh nói  họ là những người  đã đoạn  trừ  ái dục,  kỳ thật chuyện ấy không thể  nào  có được.  Huynh xem,  loài  vật  còn biết thế  nào là tình ái, huống chi là loài người?

Những tà ngôn  tà kiến  ấy  làm  cho vua  A Dục  rất buồn  khổ,  cuối cùng  ông nghĩ  ra một  giải  pháp để sửa đổi quan niệm  lầm  lạc của Thường Tu.

Một hôm  vua  A Dục bí mật gọi một  vị đại  thần vào cung,  căn dặn  phải làm  như  thế,  như  thế… Vị đại thần lập tức vâng  theo  lời dặn  dò của vua  mà thi  hành.

Vào lúc  trời  chạng vạng  tối,  vua  A Dục  đang tắm ngoài  ao, thì  vị đại  thần nọ cùng  Thường Tu bước vào cung,  thấy vua  A Dục  vắng  mặt mà  vương  mão  cùng long  bào  thì  bày  ngay   đấy,  vị  đại  thần bèn  nói  với Thường Tu rằng:

– Thân vương!  Tướng  mạo,  khuôn mặt của  ngài  và đại vương hết  sức giống nhau, nếu  ngài  khoác long bào vào  thế  nào  cũng  có người  lầm  tưởng  ngài  là  vua  A Dục. Thân vương,  ngài  làm  thử  mà xem!

Thường Tu biết  đây  là một  việc phạm pháp, nhưng tâm hiếu kỳ  và  tâm hư  danh thúc đẩy,  ông  bèn  mặc long bào và đội vương  mão  lên.  Đúng ngay  lúc ấy vua A Dục bước vào, thấy thế  nổi giận, trách mắng Thường Tu rằng:

– Ngươi  thật là to gan,  dám  lén  lấy  áo mão  của  ta mà mặc, có phải là ngươi muốn làm phản không? Ngươi tính chuyện soán  ngôi, có phải chăng?

Chứng cớ đã  rành rành, Thường Tu  còn chạy  chối vào đâu  được? Vua A Dục hạ lệnh:

– Đem hắn ra ngoài  cửa thành chém  đầu  lập tức! Vị đại thần nọ bèn vội vàng  tiến đến  can gián:

– Đại  vương!  Thường Tu  là  em  vua,   không phải người  ngoài, hơn  nữa  đây  là  lần  đầu  tiên xúc  phạm long nhan, xin đại vương tha tội cho thân vương!

Vua  A Dục  nhìn xuống  nét  mặt ủ dột  của  Thường

Tu, rồi đột nhiên hỏi:

– Thường Tu,  ta hỏi ngươi,  ngươi  có thích làm  vua không?

Thường Tu trả lời rất nhỏ:

– Tuy rất thích nhưng thần không dám  vọng tưởng.

– Làm  vua  thì  vui sướng  ở chỗ nào?

Bây  giờ thì  Thường Tu  đã  lấy  lại  can  đảm, trả lời rằng:

– Vua  là  người  được  tôn  trọng nhất nước,  những khoái lạc vua  hưởng  kể ra không hết,  mà  những diễm phúc  vua  có thì  nói ra cũng  không cùng  tận. Đồng thời cũng  không có ai ở trên cai quản vua,  như  thế  không phải vui sướng  là gì?

– Được! Ngươi đã muốn làm  vua  thì  ta nhường ngôi cho ngươi  trong bảy  ngày, ngươi  có quyền tận hưởng ngũ  dục tùy  thích. Nhưng mãn kỳ hạn ấy, ngươi  sẽ bị xử tử.

Vua  A Dục  quy  định như  thế  xong  bèn  lui  về hậu cung,  và bí mật ra lệnh cho một  vị thị  thần đến  trước cửa  nhà của  Thường Tu,  chờ ông  này  chiều chiều từ cung  điện  trở về thì  nhắc nhở một câu.

Người  thị  thần tay  cầm  thanh đao  bén,  đứng  ngay tại cửa  nhà, mỗi  khi  thấy Thường Tu  trở  về  thì  lớn tiếng hô rằng:

– Thêm một  ngày  vừa  mới trôi  qua, còn mấy  ngày nữa  thì  xử tử hình!

Thường Tu rất sợ chết, nghe thế  mỗi ngày  mỗi thêm phiền não,  bất  an.  Không  những ông  không khởi  lên được một  niệm  dục lạc nào,  mà  còn lo âu  đến  nỗi hình dung tiều tụy  hẳn. Bảy  ngày  làm  vua  trôi  qua  trong khổ  sầu, đến  sáng ngày  thứ  tám, vua  A Dục  lên  ngôi báu  trở  lại,  hai  bên  có văn  võ bá  quan đứng  hầu, hỏi Thường Tu rằng:

– Sao, ngươi làm  vua  bảy ngày, hẳn là đã hưởng  thụ rất nhiều dục lạc phải không?

Thường Tu nghe vương  huynh hỏi như  thế  thì  ủ rũ cúi đầu  trả lời:

– Trong bảy  ngày  vừa  qua, thật sự đệ không nghe, không thấy gì hết,  nói chi  tới chuyện hưởng  thụ. Mỗi ngày  về đến  cửa nhà, thấy tên  thị  thần tay  cầm thanh đao  sáng loáng, miệng lại  hô  lớn  số ngày  còn lại,  đủ làm cho đệ ưu khổ rồi, còn tâm trí đâu  mà nghĩ  tới mấy thứ  lạc  thú kia  nữa?  Vì thế  cho  nên  trong bảy  ngày qua, đệ không nhìn thấy, cũng  không nghe thấy gì cả.

Câu  nói của  Thường Tu làm  cho vua  A Dục hết  sức vui lòng và yên tâm, ông bèn nói:

– Thường Tu, các vị tỳ-kheo xuất gia thường tư duy đến  vấn  đề sinh tử  lớn lao  ấy,  vì thế  họ không thể  có tâm trí đâu  mà  sinh khởi niệm  ái dục hay  tham luyến vật  chất bên ngoài.

Vua  A Dục còn thuyết rất nhiều pháp liên  quan tới sự đau  khổ của nhân sinh đối với vấn  đề sinh tử, khiến Thường Tu cảm  động  rơi lệ, bèn  phát tâm quy  y Phật pháp và còn xin vương huynh cho phép mình xuống  tóc xuất gia nữa.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s