Tôn kính người già


ton kinh nguoi gia

Ngày  xửa  ngày  xưa,  nước  Ba  La  Nại  có một phong tục rất tàn nhẫn. Dân  chúng nước ấy cho rằng những người già chỉ sống bám  vào xã hội, rằng họ sống  trên đời là vô ích vì chỉ biết  tiêu xài lãng  phí chứ không thể  làm việc. Họ nghĩ, những người như  thế  thì  có ích lợi gì trên thế  gian  này  đâu?  Xét lại, nếu  lấy  lương  thực  dùng để nuôi  người  già  đem  nuôi một đứa  bé, không phải là hợp lý hơn sao?

Vì thế,  ở nước  Ba  La  Nại  có một  điều  luật quái dị rằng: “Không  ai được nuôi  dưỡng  người  già trong nhà, nếu  trái luật thì  cả nhà sẽ bị xử tử hình.”

Một phần là để tôn trọng luật pháp, một phần cũng vì vấn  đề sinh kế gia đình nên  nhà nào  cũng  như  nhà nấy,  nói đúng hơn là cả nước đều  coi thường người già.

Hễ  trong nhà cha  mẹ  bắt  đầu  lớn tuổi  là  con cái  liền đem  bỏ giữa  núi  sâu, làm  mồi cho hổ beo hay  dã thú.

Điều  luật vô nhân đạo như  thế  về lâu  về dài  đã trở thành một  tập  quán, một  phong tục.  Tuy  nhiên thiên tính của  nhân loại  không thể  hoàn toàn bị tiêu diệt, nên  có một  số người  không tán đồng  chút nào  cách  xử sự  ấy.  Nhưng họ  sợ bị  trừng phạt, không dám  phản kháng nên  chỉ biết  cam chịu,  khổ tâm đem  cha  mẹ già lên núi  sâu  làm  mồi cho dã thú.

Lúc ấy trong nước có một vị trưởng giả hạ sinh được một  đứa  con trai, cha  hiền con hiếu, gia  đình rất hòa thuận êm ấm.  Những ngày  vui trôi  mau, vị trưởng giả từ  từ  tóc đã  điểm  sương.  Đứa  con trai không thể  nào nhẫn tâm tuân theo  điều  luật vô lương  tâm như  thế, nên  cả nhà cùng  nhau tìm  ra một  giải  pháp. Đứa  con lén đào một cái hầm trong nhà, che mắt quan quân địa phương và hàng xóm, đưa  cha  mẹ già xuống  dưới hầm ở, và mỗi ngày  đưa  thức  ăn vật  dụng xuống  cho cha mẹ dùng.

Ngày  lại  ngày  từ  từ  trôi  qua, người  con luôn  luôn cẩn  thận giữ  gìn  nên  không ai  phát giác  được bí mật của  chàng. Vị trưởng giả lớn tuổi  sống  dưới hầm, suốt ngày  tụng kinh niệm  Phật cho qua  thì  giờ.

Không  lâu  sau, một  biến  cố xảy  ra trong nước làm cho nhà vua  và nhân dân  lo lắng  bất  an.  Số là các nước láng  giềng  thấy Ba  La  Nại  là  một  nước  không mấy gì có thực  lực, trên phương diện  chính trị và quân sự không có gì vững  chắc,  nên  mới  có ý định đem  quân xâm  chiếm nước này.

Cho  đến  nay,  sự  giao  hảo  giữa  Ba  La  Nại  và  các nước  láng  giềng  rất tốt  đẹp,  họ  đã  từng hợp  tác  liên minh, không ai xâm  lấn  ai. Nhưng lần  này  họ trở mặt, mà nguyên nhân lớn nhất là họ không chấp  nhận được cái điều  luật phế  bỏ người  già của  nước Ba La Nại.  Vì thế  họ nghĩ  ra một cách, trước hết  họ gởi một bản  chiến thư, trong đó đặt  bốn câu hỏi. Nếu không ai trả lời được bốn câu hỏi ấy, thì  các nước sẽ khởi binh khai chiến với nước Ba La Nại.

Khi nhà vua nhận được bản  chiến thư  ấy, trong lòng rất lấy làm  lo lắng  vì cả một triều đình văn  võ đại thần không ai trả lời được bốn câu hỏi này.  Cuối cùng chỉ còn cách  chép  lại bốn câu  hỏi, dán  khắp các nẻo đường,  hy vọng có người học sĩ nào trong nước giải đáp  được. Nếu có người  nào  giải  đáp  được bốn câu  hỏi ấy thì  sẽ được vua  trọng thưởng vô cùng  hậu hĩ. Bốn câu hỏi ấy là:

– Trên thế  gian  này,  điều  gì đáng trân quý nhất?

– Trên thế  gian  này  việc gì làm  cho con người  sung sướng  nhất?

– Trên thế  gian  này,  hương  vị nào tuyệt diệu  nhất?

– Trên thế  gian  này,  mạng sống nào kéo dài nhất?

Bản  câu  hỏi  được dán  khắp nơi,  nhưng một  ngày, hai  ngày  trôi  qua  rồi mà chưa  có ai giải  đáp  được. Qua tới ngày  thứ  ba, bỗng có một chàng thanh niên trẻ tuổi đến  trình diện,  nói  là  mình biết  câu  trả lời. Sau  đó, trước  mặt công chúng, chàng cầm bút  viết:

– Thứ  nhất, lòng tin  là điều  trân quý nhất.

– Thứ hai, chính pháp làm cho con người sung sướng nhất.

– Thứ  ba, lời nói thật có hương  vị tuyệt diệu  nhất.

– Thứ  tư, trí huệ  có mạng sống dài lâu  nhất.

Viết xong, những người đang đứng xem tại chỗ nhiệt liệt  vỗ tay  tán thưởng. Những vị quan sứ  đang đứng canh gác ở đấy lập tức đem các câu trả lời này trình lên vua.  Vua  xem rồi lấy làm  vui mừng, xuống  chỉ cho vời người thanh niên trẻ tuổi  ấy vào cung.

Vua  hỏi ai dạy  cho chàng các câu  trả lời ấy,  chàng thanh niên đáp:

– Chính cha của hạ thần đã dạy cho hạ thần. Vua ngạc  nhiên hỏi:

– Cha  của khanh hiện giờ ở đâu?

– Xin bệ hạ  xá  tội  cho hạ  thần trước,  hạ  thần mới dám  tâu lên.

Vua  liền  chuẩn y lời cầu  xin,  hứa  sẽ không bắt  tội chàng vì bất  cứ chuyện gì. Khi  ấy,  chàng thanh niên mới nói:

– Tâu  bệ hạ! Cha  của hạ thần tuổi  đã cao, nhưng hạ thần không nhẫn tâm đem  cha già vứt trên núi  hoang. Bốn câu  trả lời mới được trình lên  bệ hạ  là do cha  của hạ thần dạy cho, hiện thời cụ đang sống dưới hầm nhà của hạ thần.

Nghe   những lời  nói  thành thật của  người  thanh niên, nhà vua suy nghĩ  một lúc và tỏ vẻ hối hận mà nói:

– Ta bậy quá! Ta bậy quá! Mau  truyền lệnh cho toàn dân  không ai được đem  người già bỏ lên núi  nữa, đó là một  hành động  không hợp ý trời! Lương  tri ta ám  độn nên  đã hại  không biết  bao nhiêu người có trí huệ  rồi!

Từ  đó  trở  đi,  dân  chúng nước  Ba  La  Nại  trở  nên những người hiếu thảo bậc nhất, biết  hết  lòng tôn kính những người lớn tuổi  già nua.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s