Vua A Xà Thế sám hối


sam hoi

Sau  khi  giết  cha  là vua  Tần  Bà Sa La rồi, một  hôm  A Xà Thế  nằm mộng  thấy cha về mỉm  cười mà nói với ông rằng:


– A Xà Thế!  Ta  là  cha  của  con. Tuy  con đã  giết  ta, nhưng ta không oán  hận con.  Là  đệ tử  của  đức  Phật nên  ta nguyện dùng đức từ bi của Phật mà tha thứ  cho con. Dầu  sao con cũng đã là con của ta, nên  ta chúc con một  điều,  chúc  con sớm  tỉnh ngộ  sám  hối  mà  bước đi trên con đường  ánh sáng.

A Xà Thế  rất buồn,  nghĩ  đến  lòng  thương của  cha, nghĩ  đến việc mình đã giết cha một cách vô lý, ông cảm thấy vô cùng  ân hận việc đã làm.

Có một hôm,  vua  A Xà Thế cùng  mẹ là phu  nhân Vi Đề Hi ngồi cùng  bàn  ăn  cơm. Không  thấy con trai của mình là Ưu Đà Gia vào bàn  ăn,  ông hỏi người thị  tùng:

– Ưu Đà Gia đâu, mau tìm  nó về đây cùng  ăn cơm…

Người hầu cận đáp:

– Ưu Đà Gia đang nghịch với chó.

Khi  người  hầu cận  gọi Ưu  Đà  Gia  về,  chú  còn ôm một con chó nhỏ trong tay. A Xà Thế hỏi con rằng:

– Tại sao con không ăn cơm? Ưu Đà Gia nũng nịu  trả lời:

– Không  cho con ở chung với chó thì  con không ăn cơm đâu!

A Xà Thế  đành phải chìu  ý con và  tất cả cùng  ăn cơm chung bàn  với chó. Sau  một lúc, vua  A Xà Thế nói với Vi Đề Hi phu  nhân rằng:

– Vì thương con mà  vua  phải ăn cơm chung với chó, thật là khó coi!

Quốc thái phu  nhân Vi Đề Hi trả lời:

– Ăn cơm chung với chó thì  có chi là đặc biệt!  Thiếu chi  người  ăn  thịt chó  nữa  kìa!  Hiện nay  vua  thương con, chịu  ngồi ăn  chung với chó mà  vua  đã chua chát. Sự  thật tiên vương  ngày   trước  đối  với  vua  còn  làm nhiều chuyện khó làm  hơn nữa, nhưng vua  không biết đó thôi.

Lúc vua còn rất nhỏ, trên ngón tay có mọc nhọt, đau đớn  vô cùng,  làm  cho vua  đêm  ngày  không ngủ  được. Tiên  vương ôm vua  đặt  lên đầu  gối, dùng miệng ngậm nhọt độc trên ngón tay cho vua  bớt đau. Có khi,  khí ấm trong miệng làm cho nhọt bể ra và chảy mủ, tiên vương sợ giấc ngủ  của  vua  bị kinh động  nên  không dám  nhả ra,  phải nuốt cả  chỗ  máu mủ  ấy.  Tiên  vương  thương vua  như  vậy đó, vì thương con nên  đã làm  những điều mà người khác không làm  được!

Vua A Xà Thế nghe phu  nhân Vi Đề Hi kể, yên lặng đặt  chén  cơm  xuống, đứng  dậy  bước  qua  phòng bên cạnh. Từ đó trở đi, ông không còn cảm thấy làm  vua  là vinh  quang và  sung sướng  nữa, trong tim  ông  dường như  có một tảng đá thật lớn đang đè nặng.

Nghiệp báo  của  vua  A Xà Thế  hiện tiền khiến cho khắp thân ông  bị  nổi  đầy  mụn nhọt, trong tâm lại không lúc nào là không bị hối hận giày vò. Ông bèn nói với quần thần rằng:

– Bây giờ cả thân lẫn  tâm của  ta bị lâm  bệnh nặng, nhất định là  do cái  tội  giết  hại  cha  mà  ra,  ai  có thể chữa  lành cho ta?

Giữa  các đại  thần có nhóm đệ tử  lục  sư  ngoại  đạo Nguyệt Xưng, muốn an ủi vua  nên  dùng đủ thứ  tà giáo để chứng minh rằng vì nước mà  giết  cha  thì  không có tội, nhưng vua A Xà Thế nghe họ nói không hề yên tâm mà còn nặng thêm lòng hối hận.

Lúc ấy có một vị danh y tên  là Kỳ Bà bước lên khám bệnh cho vua,  hỏi rằng:

– Đại  Vương,  hiện giờ đại  vương  cảm  thấy trong người như  thế  nào?

Vua A Xà Thế lắc đầu  bảo rằng:

– Kỳ Bà! Bệnh của  ta rất trầm trọng, không những thân ta mang bệnh mà  bệnh khổ  trong tâm cũng  rất nặng. Ta  nghĩ  rằng ngay  cả lương  y, thuốc thần, chú thuật cũng  đều  không chữa  lành cho  ta được!  Ngày đêm  nằm trên giường  ta ưu sầu  khổ  não,  rên  siết  kêu la,  không tài nào  nhắm mắt. Kỳ Bà!  Tuy  ông  là  bậc danh y trong thiên hạ, nhưng lần này ngay  cả ông cũng sẽ phải bó tay  thôi!

Kỳ Bà nói một cách trang trọng:

– Đại vương! Xin ngài  đừng  thất vọng bi thương như vậy.  Hiện nay,  trên thế  giới  này,  ngoài  đức  Phật ra, thần nghĩ  rằng đúng là không có một  người  thứ  hai  có thể  cứu bệnh cho đại vương.

Khi  Kỳ Bà  thốt lên  những lời ấy,  các tùy  tùng của vua  A Xà Thế  đều  biến  sắc,  họ rất sợ Kỳ Bà  đã  chọc giận  vua.  Nhưng lần  này  vua  A Xà Thế  không hề nổi giận, chỉ yên lặng  nhắm mắt. Kỳ Bà quan sát biết được tâm của vua  rồi, bèn nói tiếp:

– Đại Vương, thần là một thầy thuốc, tuy có thể chữa bệnh của  thân thể  nhưng tuyệt nhiên không chữa  trị được bệnh của  tâm. Đức Phật là vị y sĩ vô thượng, chỉ cần  đại  vương bằng lòng đến  bái kiến  Ngài, chắc  chắn Ngài  sẽ đón  tiếp  đại  vương.  Đức Phật giống  như  biển cả mênh mông,  có thể  dung nạp  tất cả mọi dòng  sông. Bệnh khổ  của  đại  vương  do tâm mà  sinh, cần  phải trị dứt  bệnh căn  của  tâm, sau  đó mới trị được bệnh của thân.

Vua A Xà Thế gật  đầu  nói rằng:

– Phải rồi Kỳ Bà, ông nói rất đúng. Ta cũng rất muốn bái  kiến  đức Phật, song  ta sợ Ngài  sẽ không tiếp  ta vì ta là người tội lỗi. Đó là chưa  kể những gì ta đã làm  với Đề Bà Đạt  Đa…  Ta rất có lỗi với đức Phật…

Kỳ Bà biết  được tâm của  vua  A Xà Thế  ngay  trong giờ phút ấy nên  tiến thêm một bước nữa, nói rằng:

– Đại  vương,  thần nghe nói  rằng ngay  trong giây phút lâm  chung, tiên vương  đã  tha tội  cho đại  vương rồi.  Tiên  vương  là đệ tử  của  đức Phật, đệ tử  của  Phật mà  còn tha thứ  cho đại  vương,  không lẽ một  đấng đức độ viên  mãn, tâm đại  bi trùm khắp như  đức Phật mà lại không biết  tha thứ  sao?

Thần  nghe đức  Phật  thuyết giảng rằng, nếu   có người  tạo  tội ác mà  biết  khởi tâm tàm quý,  khẩn thiết chí thành sám  hối trước  Tam  Bảo thì  có thể  tiêu trừ  tội lỗi ấy và nghiệp chướng  cũng  nhẹ  đi. Tuy  có một  thời đại vương không hiểu luật nhân quả  mà tạo nghiệp ác, nhưng nếu  nhìn theo  pháp môn  tàm quý  và  sám  hối của  đức Phật thì  đại  vương vẫn  có thể  được cứu.  Thần thấy đại  vương  nay  đã có tâm tàm quý  và sám  hối thì đại  vương  đã  bắt  đầu  bước đi trên một  con đường  mới rồi đó!

Thần lại  đã  từng nghe đức Phật giảng rằng, người có trí huệ  thì  không dám  tạo  tội,  nếu  không cẩn  thận mà  tạo  tội  thì  sau  đó  biết  sám  hối.  Người  ngu  si  là người  tạo  tội mà  không hối cải, hay  là tạo  tội xong lại còn che  giấu. Nếu  đại  vương  đến  được trước  mặt đức Phật mà cáo bạch  sám  hối, nói rõ là sẽ không tái phạm nữa, thì  ánh sáng từ bi của Ngài  sẽ phù  hộ che chở cho đại vương.

Đại  vương,  người  trí không che  giấu  tội  của  mình. Đức  Phật thường nói,  làm  người  phải tin  sâu   nhân quả, tin  chắc  chắn rằng không ai  thoát được  nghiệp báo, dẫu  chỉ trong đường  tơ kẽ tóc.

Trên thế giới này chỉ có hạng nhất-xiển-đề là không thể  cứu  được,  vì họ hoàn toàn không có niềm  tin  nơi Tam  bảo,  bác  bỏ nhân quả. Đại  vương  không phải là nhất-xiển-đề thì  chắc chắn sẽ được đức Phật cứu độ.

Lòng  từ  ái  của  đức  Phật vô lượng  vô biên,  tất cả chúng sinh đều  được Ngài  thương xót  đến.  Đức Phật không phân biệt  kẻ  oán  người  thân, kẻ  thương người ghét, người giàu  kẻ nghèo, kẻ sang người hèn. Ngài cứu độ tất cả mọi người một  cách  bình đẳng. Đức Phật cho phép ông Bạt  Đề tôn  quý  xuất gia,  thì  cũng  cho phép ông Ưu Ba Ly hạ tiện xuất gia. Đức Phật tiếp  nhận sự cúng  dường  của  phú  ông  trưởng giả  Tu-đạt-đa, cũng không từ chối sự bố thí  của kẻ bần  cùng.

Đức  Phật đã  cảm  hóa  ngài  Đại  Ca  Diếp  vốn  trốn tránh dục nhiễm gia nhập vào tăng đoàn, nhưng Ngài cũng  đã dùng phương tiện khuyến hóa được một người đầy tham dục như  Ngài  Nan Đà và cho xuống  tóc. Quỷ mẹ cùng  Ương Quật Ma La, ai nghe tên  cũng  hãi  hùng nhưng đức Phật đã tìm đến họ để độ hóa. Đối với ai đức Phật cũng  xem như  La Hầu La, đứa  con duy  nhất của mình, xin đại vương đừng  nên  nghi  ngại  gì cả.

Thật ra nói lên những lời này thần rất e ngại, nhưng thần không thể  không nói. Bây giờ đức Phật đang đưa các vị đệ  tử  của  Ngài  đến  vườn  lê của  hạ  thần và  sẽ thuyết pháp nơi đó, xin  đại  vương  hãy  mau đến  tham bái  Ngài, xóa tan màn mây  đen  tối trong tâm, để cho bầu  trời  được quang đãng xán  lạn.  Đây  là  một  cơ hội ngàn vàng, thần khẩn khoản xin đại vương đừng  bỏ lỡ!

Vua  A Xà Thế  nghe xong, trong mắt phát ra những tia hy vọng lẫn  hối hận, ông đáp:

– Nghe  khanh nói  trẫm rất vui  mừng, vậy  khanh hãy  về chọn ngày  lành tháng tốt,  trẫm nhất quyết đến tham bái đức Phật để van  cầu sám  hối.

Kỳ Bà lắc đầu  không đồng ý:

– Đại  vương,  trong giáo  pháp của  đức Phật, không có những sự mê tín  như  ngày  lành tháng tốt. Đức Phật thường dặn  dò các vị đệ tử  của  Ngài  rằng không nên bói toán, bốc quẻ  xem việc lành dữ. Tu học chính pháp và hành động theo  Chính pháp thì  ngày  nào cũng  lành và  tháng nào  cũng  tốt  cả.  Tốt  nhất là  đại  vương  nên khởi hành ngay!

Vua A Xà Thế rất vui lòng, cho chuẩn bị thật nhiều phẩm vật cúng dường,  và đưa một đại đội tùy tùng rầm rộ hướng  đến  vườn lê của Kỳ Bà.

Nhưng trên đường  đi, A Xà Thế bỗng cảm thấy lo sợ và bất  an.  Ông ra lệnh cho voi lớn và cả đoàn  xe ngựa phải ngừng lại, nói với Kỳ Bà rằng:

– Kỳ Bà, ta nghĩ  rằng đức Phật đã lìa mọi nhiễm ô, Ngài  có nhân cách  thanh tịnh như  trăng tròn. Tăng đoàn  của  Ngài  toàn là  những vị thánh nhân đã  đoạn diệt  phiền não.  Ta  và  Đề Bà  Đạt  Đa  đã  phản nghịch đức Phật, thì  làm  sao Ngài  lại bằng lòng tiếp  kiến  một kẻ cực ác vô đạo như  ta? Làm  sao Ngài  lại chịu đưa bàn tay cứu độ cho một kẻ tội lỗi như ta? Ta nghĩ  hay là thôi vậy, chúng ta nên  quay về!

Kỳ Bà nghiêm sắc mặt mà nói rằng:

– Tình thương của  cha  mẹ đối với con cái vốn bình đẳng, nhưng phần lớn cha  mẹ thường đặc  biệt  lo lắng cho những đứa  con có bệnh. Từ bi của  đức Phật cũng bình đẳng đối  với  tất cả  chúng sinh, nhưng đối  với người  có tội, Ngài  đặc biệt  quan tâm hơn.  Đối với siển đề đức Phật còn thuyết chính pháp, đại  vương  không phải là nhất-xiển-đề thì  có lý do gì mà đức Phật không từ bi cứu độ?

Vua A Xà Thế còn đang do dự, thì trong không trung bỗng nhiên có âm thanh vang  lên:

– A Xà Thế,  ta là Tần  Bà Sa La, phụ  vương của con. Con  hãy  tin  tưởng  nghe theo  lời của  danh y Kỳ  Bà, mau đến  chỗ đức  Phật mà  khẩn cầu  sám  hối.  Ta  cho con biết  một  điều  là:  đèn  pháp sắp  tắt, thuyền pháp sắp  chìm,  cây pháp sắp  gãy, hoa pháp sắp  tàn rồi. Mặt trời  Phật huệ  sắp  lặn  về tây, đức Phật sắp  nhập Niết- bàn! Lúc ấy thì  căn bệnh trầm trọng của con, ai sẽ cứu chữa?  Tội nặng ngũ nghịch mà con đã phạm khiến cho không bao lâu  nữa  con sẽ đọa địa  ngục.  Ta thương con nên  mới khuyên con hãy mau đến chỗ đức Phật mà cầu cứu.  Trừ  đức Phật đại  giác,  đời đời kiếp  kiếp  sẽ không còn ai có thể  cứu độ con!

A Xà Thế  nghe được âm  thanh từ  ái  của  cha,  đau khổ  quá, ngã  lăn  xuống  đất  bất  tỉnh. Khi  tỉnh dậy  thì danh y Kỳ Bà dẫn  ông xuống  xe đến chỗ đức Phật đang tĩnh tọa trong giảng đường.

(Ngũ nghịch:  chỉ năm tội ác nặng nhất là: giết cha, giết mẹ, giết vị A-la- hán,  phá sự hòa hợp của tăng chúng và làm thân Phật chảy máu (hoặc làm ô uế hình tượng chư Phật, Bồ Tát). Trong năm tội này thì A-xà-thế đã phạm  đến 2 tội, vì phu nhân  Vi-đề-hy cũng bị ông hại chết.)

Đức Phật ngồi  ngay  ngắn trên tòa  sư tử,  bốn bề có đệ tử  vây  quanh, ánh lửa  sáng rực,  hương  khói  cuồn cuộn tỏa lên,  mọi người đang an tĩnh tọa thiền.

Vua  A Xà Thế  rửa  chân bước vào giảng đường,  khi Kỳ Bà  đưa  ông đến  trước  tòa  của  đức Phật, ông chắp hai  tay  trước  ngực mà thưa rằng:

– Bạch  Thế Tôn, thỉnh Ngài  quán sát tâm con!

Đức Phật mở đôi mắt trong sáng ra,  quay đầu  lại từ mẫn đáp  rằng:

– Đại vương! Ông tới đúng lúc. Ta đợi ông đã lâu.

A Xà Thế  kinh ngạc  trước  sự  ưu  ái  của  đức  Phật, vội vàng  quỳ xuống, cúi đầu  thật thấp nói một cách hổ thẹn:

– Thế Tôn từ bi! Con không xứng  đáng, con là người cực ác vô đạo, nếu được Thế Tôn quát mắng con đã thấy vô cùng  hạnh phúc, nay  lại còn được Thế  Tôn dùng lời từ ái như  thế,  con rất cảm kích!

Tâm  đại  bi  của  Thế  Tôn  không bỏ sót  một  chúng sinh nào, hôm nay con mới được thấy tận mắt. Thế Tôn là bậc cha  lành của  tất cả chúng sinh, con rất hối hận đã  sát hại  người  cha  vô tội.  Bây  giờ thân tâm con bất an,  nguyện Thế Tôn từ bi cứu vớt!

Đức Phật nhẹ  nhàng nói:

– Trên thế gian  có hai loại người có thể có hạnh phúc chân chính: một  là người  tu thiện pháp không tạo  tội, hai  là người tạo tội mà biết  thành tâm sám  hối. Nay cơ duyên hối  cải  của  đại  vương  đã  thành thục. Trên đời này  có ai là không phạm tội? Biết  lỗi thì  sửa  đổi, đó là cách  hành xử của  người  tốt.  Pháp môn  của  ta quảng đại vô biên,  đại vương cứ luôn  luôn  sám  hối là được.

Đại  vương,  tội lỗi vốn không có bản  thể,  thực  tánh vốn là không, là huyễn hóa, nếu tâm ý không còn vướng mắc  thì  tội lỗi cũng  tự  nó diệt  mất. Hiểu rõ rằng tâm và tội bản  thể  đều  là không, đều  không có thật, thì  đó là sám  hối một cách chân chính.

Từ nay  đại  vương hãy  lấy chính pháp trị dân, đừng làm  điều  phi pháp nữa. Nên  lấy đức cải hóa dân, đừng nên  bạo  tàn. Nếu  đại  vương  nhân từ  thì  danh thơm tiếng tốt  sẽ lan  truyền bốn phương, đại  vương  sẽ được chúng sinh tôn  kính,  không muốn phục   tùng  cũng không được. Chuyện quá  khứ  đã qua  rồi, chẳng còn gì để bàn  cãi đến  nữa. Từ nay  trở  đi, việc quan trọng là làm  sao  sửa  đổi.  Đại  vương  mà  làm  việc  thiện thì  sẽ được an  ổn, sung sướng.  Tiến  thêm một  bước nữa  thì hãy  học pháp môn  Tánh Không  của  Phật đạo,  chứng quả Không  để tự mình giải thoát và cứu độ muôn người.

A Xà Thế  nghe đức  Phật giáo  huấn rồi,  cảm  thấy tràn đầy  hy  vọng  và  tin  tưởng  trong cuộc  sống  mới.

Ông vô cùng  hoan hỉ, tất cả mây  đen  mê vọng đã được quét sạch, quỳ  trước  bảo  toà  ông  cảm  động  rơi  nước mắt. “Lãng tử hồi đầu  kim bất  hoán” (kẻ chơi bời phóng túng mà  biết  quay về thì  còn quý hơn vàng), cuối cùng A Xà Thế quy y với đức Phật và đã được cứu độ.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s