A-la-hán ăn mày


a-la-han-an-may

Giáo pháp của đức Phật vô cùng bình đẳng, không có sự chênh lệch giai cấp, không có sự phân biệt  giàu  nghèo.

Lúc đức Phật thuyết pháp tại tinh xá Kỳ Viên,  đến bữa ăn là phải ôm bát ra ngoài hành hóa. Lúc Ngài khất thực, không phân biệt  giàu  nghèo, sang hèn, khôn  dại, đẹp xấu,  Ngài  xem tất cả đều bình đẳng, khiến cho nhà nào cũng  có được cơ hội gieo trồng hạt giống phúc  đức.

Mỗi  khi  đức  Phật dẫn  đầu  đoàn  đệ  tử  đến  thành Xá Vệ khất thực, thì  sau  lưng  Ngài  có rất nhiều người hành khất đi theo.  Nhờ uy đức của  đức Phật, họ cũng được mọi người phát tâm từ bi bố thí.

Thời  gian  chầm chậm trôi  qua, những người  hành khất trong thành Xá Vệ nhờ thế  mà kéo dài được mạng sống hạ tiện của họ. Có một hôm,  người cầm đầu  trong đám  ăn mày  ấy nói với đồng bạn  rằng:

– Chúng ta thuộc về hạng chúng sinh bị tội khổ, tuy nương  dựa  vào  ánh sáng từ  bi của  đức  Phật để  được mọi người bố thí  mà kéo dài mạng sống,  nhưng cứ tiếp tục  như  thế  này  mãi  cũng  chẳng bao  giờ đi  tới  đâu. Tôi thiết nghĩ  rằng, hay  là tất cả mọi người  trong bọn chúng ta kéo nhau đến  chỗ của  đức Phật xin xuất gia, y Pháp mà  tu hành, tương  lai không phải là được giải thoát cả hay  sao? Các bạn  nghĩ  như  thế  nào?

Tất  cả mọi người  trong đám  ăn  mày  đều  tán thành ý kiến  này,  thế  là họ kéo nhau đến tinh xá Kỳ Viên cầu xin đức Phật cho họ xuất gia để tiêu trừ  tội khổ.

Đức Phật nói:

– Pháp của  ta bình đẳng, bất  kể  kẻ  trí hay  người ngu,  người sang hay kẻ hèn, ai cũng có thể  được truyền trao giáo  pháp, được  ánh sáng pháp chiếu soi.  Pháp của  ta là pháp thanh tịnh, người  tốt  hay  xấu  ai cũng có thể  bỏ sự ô uế để được trong sạch, hồi phục  lại chân tính căn  bản. Hôm  nay  các ông xin  xuất gia,  đó là do thiện duyên của  các  ông,  các  ông  chỉ  cần  tuân theo giáo pháp của ta thì  ta cho phép các ông gia nhập tăng đoàn, thành những vị tỳ-kheo.

Những người hành khất nghe đức Phật nói xong hết sức vui mừng, cạo hết  râu tóc và khoác pháp y vào. Từ đó họ nỗ lực ra công,  diệt  trừ  tham sân  si trong tâm, hiểu rõ  căn  nguyên của  sinh tử,  nên  có nhiều vị  đã chứng được quả  A-la-hán.

Lúc đức Phật cho phép đoàn  người  hành khất xuất gia,  trong dân  chúng có rất nhiều người  nghi  ngờ, vẫn còn ôm giữ định kiến  không tốt về họ nên  dùng lời oán than phản đối, cho rằng tăng đoàn  vốn tôn  quý  thanh tịnh, không nên  để cho bọn  ăn  mày  ấy được phép gia nhập. Quan niệm  giai  cấp trong đầu  những người  này hãy  còn rất nặng nề.

Có một  hôm,  thái tử  Kỳ-đà làm  một  cỗ chay  cúng dường  đức Phật và  chư  tăng, nhưng ông  dặn  rõ ràng rằng:

– Bạch  Thế  Tôn!  Con  rất hoan hỉ  mà  cung  thỉnh đức Phật và chư tăng ngày  mai  đến  nhà con thọ  cúng, nhưng không có chỗ cho mấy  ông  tỳ-kheo hành khất nọ, xin Thế Tôn đừng  mang họ theo.

Ngày hôm sau, lúc lên đường đến nhà thái tử Kỳ-đà thọ cúng,  đức Phật nói với các vị tỳ-kheo đã có thời làm hành khất nọ:

– Hôm  nay  ta nhận lời thỉnh của  thái tử Kỳ-đà đến nhà ông ấy dùng cơm. Các ông hãy  đi về phía bắc, đến nước Uất Đan  Việt,  hái  thức  ăn  như  lúa  canh v.v… tới nhà thái tử Kỳ-đà rồi tùy  ý tìm  chỗ mà ngồi ăn.

Các vị tỳ-kheo hành khất hiểu ý của đức Phật, tuân lệnh lên đường.  Họ dùng thần thông nên  đến nước Uất ĐanViệt trong nháy mắt, hái  đầy bình bát  lúa  canh đã chín  mang về. Về tới chỗ, họ họp thành một  nhóm 500 người, xếp hàng thành chữ “nhất”, từ không trung bay xuống, uy nghi, chỉnh tề, trang nghiêm, khiến ai nhìn thấy cũng  phải tỏ lòng  tôn  kính tán thán. Khi  họ đến cung  điện  của  thái tử Kỳ-đà, 500 người theo  thứ  tự an nhiên ngồi xuống, mỗi người mở bát  lấy lúa canh mang theo  mà dùng.

Thái tử Kỳ-đà nhìn thấy các vị tỳ-kheo này  rất lấy làm  lạ, bèn hỏi đức Phật:

– Bạch  Thế  Tôn,  các vị đại  A-la-hán mới từ  không trung bay xuống, phong thái uy nghi  lẫm  lẫm  khiến ai nhìn thấy cũng  phải tôn kính ấy, chẳng hay  từ đâu  mà đến?  Thỉnh Phật từ bi nói nhân duyên của  họ cho con được biết.

Đức Phật nhìn đại  chúng, nhìn sang thái tử Kỳ-đà rồi sau  đó mới nói một cách ôn hòa:

– Thái tử Kỳ-đà! Ông hãy nghe ta nói: các vị tỳ-kheo ấy chính là những vị tỳ-kheo hành khất mà  hôm  qua ông nhất định không muốn cúng  dường.  Vì ông không mời họ nên  hôm nay họ phải đến nước Uất ĐanViệt hái lúa  canh đã chín  mang về đây dùng.

Thái tử Kỳ-đà nghe thế lấy làm vô cùng xấu hổ, biết mình đã có lỗi khinh mạn và tà kiến, buồn  rầu hối hận mà tự trách rằng:

– Con thật là ngu  si, không biết  đâu  là thánh đâu  là phàm, có mắt đứng  trước  núi  Thái Sơn mà không thấy, thật là đáng tội!

Nói xong vội vàng  bày  bàn  cỗ thức  ăn,  thỉnh 500 vị La Hán vào bàn  rồi hỏi đức Phật rằng:

– Bạch Thế Tôn, 500 vị A-la-hán này được Phật giáo hóa  không lâu  đã  chứng đắc  quả  vị, lìa  khổ  được vui. Đã được một phúc  báo to lớn như  thế,  thì  tại sao lúc ra đời lại sinh ra trong nhà hạ  tiện? Thỉnh Thế  Tôn từ bi khai thị  cho con!

Đức  Phật liền  nhân đó  giảng giải  cho  đại  chúng nghe:

– Xưa thật là xưa,  có một  thế  giới to lớn gấp  bội lần thế  giới hiện tại của chúng ta. Trong thế  giới ấy có một quả  núi  cao, trên ấy có nhiều vị tu hành và tiên nhân tu đạo cư ngụ.  Vì thế  người ta bèn đặt  tên  cho quả  núi ấy là Tiên  Sơn.

Trong núi,  lúc ấy có hơn  2.000  vị tu đạo sinh sống, vị nào cũng  đã chứng quả  thánh.

Có một năm, trời không mưa  trong một thời gian  rất lâu  nên  nạn hạn hán hoành hành, không có cách  nào canh nông  trồng trọt trên núi,  vì thế  đời sống  trở  nên vô cùng  khó  khăn. Vừa  may  có một  nhà buôn  cự phú tên  là Tán  Đàn  Ninh, làm  cỗ cúng  dường  hơn 2.000  vị thánh nói trên.

Vị trưởng giả rất thành tâm, không hề có ý niệm  lẫn tiếc  nào,  còn bảo  mấy  trăm gia  nhân trong nhà phải mỗi ngày  phục  dịch  hầu hạ  các vị thánh nhân ấy. Ban đầu  thì  những gia  nhân này  làm  việc hăng hái  chăm chỉ,  nhưng về sau  họ đâm  ra nhàm chán, thốt những lời trách oán,  thái độ càng  ngày  càng  lơ là, lười biếng. Nhưng trưởng giả Tán  Đàn  Ninh không hề hay  biết  gì về sự việc này.

Một hôm  trời  đổ mưa, nhà nông  vui  mừng như  bắt được vàng. Hai  ngàn vị thánh nhân lên  núi  trở  lại  lo việc làm  ruộng, trưởng giả cũng  bảo gia nhân bắt  đầu gieo  hạt. Mọi  người  lấy  nông  cụ  ra,  từ  sáng đến  tối ngoài  đồng  làm  việc,  lúa  mạch, lúa  mì,  đậu, ngũ  cốc v.v… không đâu  là không có. Những gì họ khổ công gieo trồng mọc lên rất nhanh, chín  vàng  nặng trĩu. Trưởng giả rất vui mừng, bảo họ phải cố gắng  thêm, tưới tẩm thêm, bón  phân thêm, đến  lúc  gặt  hái  thì  thu hoạch càng  thêm phong phú, kho vựa đầy ăm ắp. Chỗ còn dư thì  đem  chia  cho mọi  người  và  bố thí  cho dân  chúng trong nước.

Lúc ấy, những người  đã phục  dịch  thánh chúng lúc trước  cảm  thấy ân  hận, xấu  hổ, biết  lỗi của  mình nên từ  đó phát nguyện rằng: “Mấy  trăm người  chúng ta đây,  lúc  trước  đã  tạo  khẩu nghiệp, bây  giờ phải biết sám  hối  sửa  lỗi,  từ  bây  giờ trở  đi  nguyện làm  nhiều việc thiện, phụng sự người khác, cầu mong kiếp tới gặp được thánh hiền, tu hành giải  thoát.”

– Thái tử Kỳ-đà! Mấy trăm người làm  công ấy, vì đã tạo khẩu nghiệp nên  kiếp này phải chịu cái khổ sinh ra làm ăn mày.  Nhưng nhờ biết hối lỗi, nên  nửa  quãng đời còn lại họ đã được gặp Phật. Trưởng giả Tán  Đàn  Ninh chính là  ta trong kiếp  trước.  Nhờ  những nhân duyên như  thế  nên  kiếp  này  họ mới được ta hóa độ.

Đức Phật nói  xong,  thái tử  Kỳ-đà và  những người cùng  nghe đều  hoan hỉ  khôn  kể  xiết,  tất cả đều  phát tâm chuyên cần  tu hành, sám  hối tội lỗi, cầu  được vô thượng Bồ-đề.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s