Ba luồng ánh sáng trắng


anh sang phat da

Trong  quá  khứ  có một  người  sống  tại một vùng  núi non hẻo lánh, nên từ nhỏ không hề được giáo  dục,  chưa  từng nghe Phật pháp, chỉ biết cần  kiệm  làm  bổn phận cho qua  kiếp  con người.  Bởi vì phước  báo quá  ít ỏi nên  cho đến  già mà  vẫn  còn nghèo nàn cùng  khổ.

Khi  đã  60 tuổi,  sau  nửa  năm bệnh hoạn, ông  tiều tụy  yếu ớt hẳn, biết  sẽ không còn sống lâu  trên đời nên gọi hai  đứa  con đến  bên  giường  bệnh cho ông  dặn  dò lần  cuối. Ông bảo đứa  con trưởng rằng:

– Em  con còn nhỏ  lắm,  con thì  đã biết  làm  việc rồi, con phải cẩn  thận chăm lo cho em,  con phải giữ trách nhiệm của người anh cả.

Vài  ngày  sau, ông rời bỏ nhân thế  khổ  đau, khiến hai  đứa  con buồn  khóc thảm thiết.

Ba năm sau, người anh cưới một thiếu nữ sống cùng thôn làm vợ. Cô này là người không có giáo dục, lại tâm địa  độc ác không biết  đến  tình nghĩa huynh đệ. Thấy chồng  hậu đãi  em,  cô không bằng lòng.  Cô thường nói với chồng  rằng:

– Hay  là  chúng ta cho  nó  một  vài  thứ  trong nhà rồi bảo nó tự lập  kế mưu  sinh. Hiện giờ còn nhỏ  nó sẽ không làm  gì khác được  chứ  mai  mốt  nó  lớn  lên  thì phiền lắm,  anh muốn đuổi nó đi, chưa  chắc  nó đã chịu đi!

Nhưng người  anh vẫn  còn cái tình nghĩa chất phác của  người  miền  núi,  lại  còn nhớ  rõ lời di chúc  của  cha nên  mỗi khi  nghe vợ nói thì  bịt tai lắc đầu  quầy quậy.

Tục ngữ  nói rất đúng, gần  mực thì  đen  gần  đèn  thì sáng. Sống  cả ngày  gần  một  người  vợ tâm địa  xấu  xa, cứ thừa mọi dịp nói đi nói lại mãi  những lời độc ác, dần dà  người  anh bị huân tập, làm  sao  không biến  thành ác độc? Lời nói giả dối mà cứ lặp đi lặp lại mãi  cũng  trở thành chân thật. Cuối cùng  người anh cũng  giống như vợ, bắt  đầu  ghét bỏ người em.

Một hôm,  người  anh nghe lời vợ, đem  người  em tới nghĩa địa  rất xa thành phố. Đó là một  nơi rất ghê rợn, vì theo  tập  tục  Ấn Độ, người chết  đi thì  đem  tử thi  vứt vào đấy cho chim  chóc thú vật  tới mổ rỉa  mà ăn.

Nghĩa địa  rất u ám,  xương  trắng ngổn  ngang, luôn luôn  có tiếng chim  kêu  thê  lương  như  tiếng quỷ  khóc trong địa  ngục.  Vào  bên  trong thì  cái  khí  âm  u  của nghĩa địa  làm  cho người  ta lạnh run lên.  Vào sâu  bên trong nữa  có một ngọn  cây cao đến tận từng mây,  cành lá chằng chịt  che trùm cả khe  núi.  Người  anh lấy một sợi  dây  thừng mang theo,  trói  thúc người  em  lại  rồi treo  lên một cành cây to, vừa trói  vừa bảo em:

– Không  phải anh tàn nhẫn, nhưng nói thật em làm cho anh phiền lo nhiều quá. Em hãy ở đây suy nghĩ  cho kỹ anh nói có đúng không, vài bữa  nữa  anh tới đón em về.

Nói xong, người anh quay đầu  chạy mau trở về nhà, không màng tới  tiếng kêu  van  xin  bi  thảm của  em. Thật ra người anh rất mâu thuẫn, lòng thương em rất mực  đã  bị bà vợ dùng giọng  nói nét  mặt nghiêm khắc đàn  áp xuống. Anh ta rất đau  khổ nhưng không đủ sức chống  lại vợ.

“Thôi, để cho nó đánh cuộc với định mệnh xem sao! Nếu  nó thoát được miệng hổ lang  thì  đó là nó có phúc báo, còn nếu không thì coi như là số của nó đã định như vậy.  Ta đối với nó như  thế  đã  là từ  bi lắm  rồi,  thay vì nghe lời vợ cầm dao giết nó!” Trên đường  về, người anh nghĩ  như  thế  để tự trấn an mình.

Trời  dần   dần   tối.  Trong màn đêm  đen  kịt,  tiếng chim kêu thảm khốc càng ngày  càng to. Rồi lại có thêm những âm  thanh kỳ quái hỗn  tạp  cũng  vọng  lại,  như báo hiệu yêu quỷ sắp  hiện hình. Đêm sâu  dần, hổ, báo, sư tử,  chó sói cũng  lục tục  kéo đến,  rống  lên  từng hồi như  muốn hớp hết  hồn  phách của  người  ta. Những tia mắt xanh lè, tham lam  hung ác đổ dồn về phía gốc cây cổ thụ. Trên cây, người em cố hết  sức giãy giụa  khóc la:

– Cứu  tôi  với! Trời  ơi! Thần thánh ơi! Cứu  tôi  với! Cứu tôi với!…

Nó la hét  như  một  người  điên  cho đến  nỗi máu tươi từ trong miệng trào ra.

Ngay  lúc  ấy,  tại thành Vương  Xá xa  xôi, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đang trụ trong Kim Cương Tam Muội. Ngài  nghe tiếng kêu  cầu  của  đứa  trẻ đáng thương, và nhìn thấy rõ  tình cảnh nguy  ngập mà  nó  đang lâm phải, nên  Ngài  dùng thần lực phóng ra một  luồng  ánh sáng từ giữa  hai  lông mày.

Trong nghĩa địa,  bỗng nhiên có một luồng  ánh sáng trắng kỳ  dị  chiếu tới  khiến khe  núi  u  ám  rợn  người ấy chợt  rực sáng lên.  Những con dã thú hung hăng bị luồng  ánh sáng trắng chiếu tới, lùi dần  từng bước, từng bước, có con quay mình chạy  chí tử.

Lại  có một  luồng  ánh sáng màu trắng khác mạnh mẽ  hơn  chiếu thẳng tới sợi dây  thừng trên người  đứa em. Như  thể  bị chạm phải một ngọn lửa mạnh hay  một lưỡi dao bén, sợi dây kêu  lên răng rắc và đứt đoạn  từng khúc một.

Tiếp  theo  lại  có một  luồng  ánh sáng trắng thứ  ba, dịu  dàng chiếu lên  thân đứa  em.  Nó như  bị tê liệt  rơi xuống đất, đau  đớn nhức nhối ngất lịm đi. Bỗng nó cảm thấy như  có người  đang nhẹ  nhàng vỗ về khiến cho nó cảm thấy thư  thái lạ kỳ.

– Con thật là đáng thương!

Một  giọng  nói  dịu  dàng từ  ái  vang  lên  bên  tai.  Nó tỉnh lại và có một cảm giác lạ lùng  khiến bao nhiêu đau đớn trong người  tan biến  hết.  Ngẩng đầu  lên  nhìn, nó thấy một  người cao lớn trang nghiêm đang đứng  trước mặt nó,  người  ấy  lại  hiền từ  nhìn nó mỉm  cười. Kinh ngạc  quá  độ, nó ấp úng  không biết  phải nói gì:

– Ngài  là… ngài  là…

– Ta là Phật!

– A! Ngài  là Phật tổ đó sao! Con thấy Ngài  thật rất uy  nghi  khả kính. Con  nguyện sau  này  sẽ  làm  Phật giống như  Ngài  để cứu mình và cứu người!

Đứa bé liền phủ  phục  năm vóc xuống  đất  lễ lạy. Đức Phật cho nó quy y và đưa  nó về thành Vương Xá.

Từ đó, người  em sống  trong tăng đoàn, cùng  chúng đệ  tử  của  đức  Phật tu hành, nghe kinh thính Pháp, không lâu  sau  thì  chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn.

Người em chứng đạo rồi nhớ đến anh mình, liền đến trước  đức Phật bạch  rằng:

– Bạch  Thế Tôn! Anh con tuy  đã có lòng ám hại  con, nhưng nhờ thế  mà con được gặp Phật và được Phật cứu độ. Như  vậy,  thành tựu  hôm  nay  của  con là  nhờ  anh con mà có. Nay con muốn về hóa độ anh ấy, nên  con xin phép Thế Tôn cho con vắng  mặt một thời gian.

– Rất  tốt! Ta rất ngợi khen suy nghĩ  đó của con.

Người em bèn dùng thần thông bay về nhà của anh. Bà chị dâu  thấy được, vội vàng  chạy  vào nhà trốn. Bà tưởng  rằng người em bị hại  nhưng không chết  nên  nay trở về báo thù. Nhưng người em đã gọi lớn:

– Anh chị ơi, anh chị không cần chạy trốn. Em không oán  hận anh chị chút nào  mà  còn muốn tạ ơn anh chị nữa. Nhờ  anh chị mà  em gặp  được ân  sư là đức Phật, chứng được quả  vị, thoát khỏi  sinh tử. Em  đặc biệt  trở về đây để cám ơn anh chị.

Em  cũng  hy vọng  anh chị có thể  tu học Phật pháp để sớm thoát khổ.  Tài  sản, của  cải cho đến  tính mệnh của  chúng ta trên thế  giới này  đều  là vô thường, nếu làm  đủ cách  để truy cầu  chúng thì  dẫu  có được đi nữa, cũng có ngày  chúng sẽ bỏ chúng ta mà đi. Anh chị nghĩ kỹ xem,  có gì thật sự thuộc về chúng ta đâu?  Hãy  bỏ chúng đi,  lấy  cái  tâm tưởng  và  tinh lực  để  truy cầu chúng dành cho việc truy cầu  Phật pháp, vì đó mới là kho  tàng chân chính. Kho  tàng này  mới thật sự vĩnh cửu  không bao  giờ mất, đem  lại  cho chúng ta gia  tài bảo vật  và cả niềm  an vui nữa.

Những lời nói ấy làm  cho vợ chồng  người  anh như bừng  tỉnh mộng,  nhất là lòng khoan dung độ lượng của người  em,  đã  không oán  trách lỗi lầm  xưa  mà  còn lo nghĩ  tới  niềm  phúc  lạc  của  họ  nữa. Đó chính là  sức mạnh đã giúp  họ có can đảm  sám  hối tội đã làm.

Chỉnh đốn  việc gia  đình nhà cửa  xong  xuôi,  cả ba cùng  sánh vai  nhau tiến về hướng  tinh xá Trúc  Lâm. Và từ  đó họ trở  thành những đệ tử  tinh chuyên nhất của Phật-đà.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s