Tình đời bạc bẽo


tinh doi bac beo

Thành Vương Xá là một khu đất  hình lòng chảo nằm trên núi  cao, bốn phía có vườn tược bao  quanh, cây cối rậm rạp, khí  hậu ôn hòa,  ấm cúng,  quốc thái dân  an,  phong điều  vũ thuận. Vua của vương quốc này  là A Xà Thế, vốn tin Phật, thương dân, trị nước đúng cách,  rất được lòng người.

Trong vương  quốc  có nhà một  ông đại  phú  hộ, kho vàng  đầy ắp, tiền tài nhiều không ai sánh bằng, nhưng hai  vợ chồng  cưới nhau đã  lâu  mà  không có được một đứa  con nào. Vì thế  hai  người đi cầu thần linh, xem bói toán khắp nơi, lại  siêng làm  việc thiện, bố thí  để cầu xin một đứa  con trai.

Cuối  cùng  trời  không phụ  lòng  người,  tới một  năm kia  thì  hạ sinh một cậu quý tử trắng trẻo  bụ bẫm.  Đứa bé này  sinh ra thật không giống  người  thường, không biết  kiếp  trước  đã gieo trồng phước  đức gì mà  các đầu ngón  tay  của  cậu  đều  phóng ra ánh sáng cát  tường, sáng như  mặt trời,  mặt trăng. Vì đầu  ngón tay  của cậu phóng ra ánh sáng có thể  làm  tan biến  được bóng  tối, nên  cậu được đặt  tên  là Đăng Chỉ (đèn  trên ngón  tay).

Không  những Đăng Chỉ  có ngón  tay  phóng ra ánh sáng mà  tướng  mạo  cũng  thanh tú đẹp  đẽ,  khiến cha mẹ vừa  ngạc  nhiên vừa  vui mừng, mời rất nhiều thầy tướng  số đến  xem  tướng  cho con. Trong số các vị này có một  người  tên  là Khổ Tu, nhìn tướng  của  Đăng Chỉ xong nói với ông phú  hộ rằng:

– Tôi  thấy tướng  đứa  bé  này  lớn  lên  không giống người thường, tương  lai chắc chắn sẽ là thánh nhân.

Ông  phú  hộ nghe thế  mừng rỡ không kể  xiết,  nên lúc  Đăng Chỉ  đầy  tháng, ông  lập  đàn  bố thí  rất lớn trong suốt  7 ngày, hai  vợ chồng nguyện hồi hướng  công đức bố thí  ấy cho tương  lai  con trai được nhiều sự tốt đẹp hơn nữa.

Tin phú  ông lập đàn  bố thí  chỉ trong vòng một ngày là  được loan  truyền đi khắp cả nước,  ai  ai  cũng  khen ngợi  tán thán. Nhà vua  nghe được  tin  này  cũng  vui mừng khôn  cùng,  sai  sứ thần đến  nhà ông phú  hộ bảo muốn triệu Đăng Chỉ vào cung  cho vua  gặp.

Vua  đã  truyền lệnh, ai  dám  không tuân, phú  ông lập  tức  mang đứa  bé mới đầy  tháng đi gặp  nhà vua. Đường  đi rất xa nên  khi  phú  ông đến  hoàng thành thì trời  đã  tối.  Khi  ông  đến  trước  cửa  hoàng cung,  bỗng nghe tiếng chiêng trống rầm trời,  thì  ra trong cung  có một  buổi tiệc rượu  đang được cử hành. Vì thế  phú  ông đứng  ở ngoài  rất lâu mà không ai vào thông báo, chẳng vào trong cung  được.

Đang trù trừ  do dự,  bỗng  hài  nhi  đưa  tay  lên,  từ các đầu  ngón  tay  phát ra ánh sáng chiếu khắp cả cung điện,  từ  trong ra ngoài  chói ngời  rạng rỡ. Lúc  ấy vua và các đại thần đang ngồi trong bàn  rượu,  bị luồng  ánh sáng chiếu đến  chói lòa cả mắt, họ lấy làm  kinh dị hỏi người trong cung  xem ánh sáng ấy từ đâu  chiếu đến?

Các quan gác cổng vội vàng  chạy  ra xem rồi trở vào tâu tự  sự  cho vua  biết,  vua  lập  tức  hạ  lệnh cho bồng đứa  bé vào. Thế là phú  ông và bà nhũ mẫu bồng Đăng Chỉ  đến  trước  mặt vua,  ánh sáng từ  các đầu  ngón  tay cậu chiếu rực cả gian  phòng, và còn làm  cho tất cả mọi người trong phòng cảm thấy ấm áp nữa.

Dáng vẻ thanh tú cuả Đăng Chỉ đã chiếm được cảm tình của vua, vua tự tay bồng lấy đứa bé, nhìn nó không ngừng và nghĩ  rằng lời thuyết giảng của  đức Phật về nhân quả  không bao giờ sai  lầm.  Nếu  như  đứa  bé này không tạo  nhân thiện trong kiếp  trước  thì  đời này  làm gì có một  dung mạo  đẹp  đẽ như  thế,  và đầu  ngón  tay làm  gì có thể  phát được  ánh sáng? Những điểm  đặc biệt của Đăng Chỉ được mọi người tán thán, và vua ban cho phú  ông rất nhiều trân bảo trước  khi cho phép ông bồng con về nhà.

Ngày  tháng qua  mau, Đăng Chỉ  lớn  lên  và  thành người  trong sự yêu  thương chiều chuộng của  cha  mẹ. Năm cậu  20 tuổi,  cha  mẹ cậu  chọn  cho cậu  một  thiên kim  tiểu thư  môn  đăng hộ đối và cử hành hôn  lễ. Hai vợ chồng  ăn ở với nhau rất hạnh phúc.

Họ sống  một  cuộc sống  phú  quý  vinh  hoa  với tiền muôn bạc triệu, nô tỳ, tùy tùng, nhà cửa, quần áo, điều chi cũng  đầy đủ, cả ngày  đắm  mình trong hoan lạc nên quên hẳn những sầu  lo của kiếp  người.

Nhưng thế  gian  vô thường, biến  hóa không ai lường được, có thành thì  phải có bại,  có niềm  vui  tụ họp  thì cũng có nỗi buồn phân ly, có ngày  hôm nay cường thịnh thì  cũng  có ngày  mai  suy nhược.  Nhưng phần đông con người,  lúc  sống  trong hạnh phúc  tuyệt nhiên không hề nghĩ  đến  chuyện khổ,  không, vô thường. Đăng Chỉ cũng  vậy,  khi  cha  mẹ  còn sống,  tiền của  đầy  kho,  vợ chồng đầm  ấm, ngũ  dục lạc thú tha hồ tận hưởng  thì lo làm  gì đến  tương  lai?

Thế  rồi  không bao  lâu  sau, cha  mẹ  cậu  là  những người thương yêu cậu nhất, cùng theo  nhau mà nhuốm bệnh và qua  đời.

Từ trước  tới nay  Đăng Chỉ chẳng bao giờ biết  lo việc nhà, lúc ấy hoàn toàn bó tay, không biết  cách  nào  mà cai quản gia nghiệp. Lại  còn quen thói  coi tiền như  cỏ rác,  rượu  chè  phóng đãng, cho nên  tài sản  trong nhà nhanh chóng  sa  sút. Tuy  hoàn cảnh ngày   càng  khó khăn nhưng Đăng Chỉ không hề lo lắng  chút nào.

Một hôm,  trong một  buổi lễ lớn cử hành hằng năm, có rất nhiều thanh thiếu niên công  tử  tham gia,  thôi thì  quần là áo lượt,  rượu  thịt ê hề, vui đùa  thỏa thích. Lần  ấy dĩ nhiên Đăng Chỉ không ra ngoài  lệ, cậu cũng gia nhập vào đoàn  người náo nhiệt và cũng quay cuồng múa hát ăn chơi không hề kiềm  chế.

Trong lúc  Đăng Chỉ  dự  tiệc  vui  tìm  lạc  thú, thì  ở nhà, vợ cậu  bỏ về nhà bố mẹ.  Căn  nhà thênh thang không ai  trông coi, bọn  nô  tỳ  và  người  làm  thấy tài sản  thì  động  lòng tham, mở cửa kho,  còn lại bao nhiêu tiền tài bảo vật  lấy hết  sạch, ngay  cả dụng cụ, quần áo trong nhà cũng  đem  đi luôn,  không chừa  lại thứ  gì.

Đến  gần  tối Đăng Chỉ  trở  về nhà thì  thấy căn  nhà đã  trống rỗng,  người  và  vật  không còn lại  gì cả.  Tuy cậu biết chính là bọn nô tài đã cướp đi, nhưng không có cách  nào  rượt  bắt  họ lại được, vì trong hoàn cảnh hiện tại của cậu,  trong tay  không một đồng xu cắc bạc, ai là người chịu  giúp  đỡ cậu đây?

Cậu  buồn  bã thở than mà cũng  không ai ngó ngàng tới cậu,  chính người  vợ mà  cậu  yêu  thương nhất cũng chán ghét cậu  mà  bỏ đi rồi. Đến  lúc ấy cậu  mới tiếc  là tại sao  lúc  trước  mình không làm  người  tốt,  không lo cầu  học, bây giờ không có một năng khiếu nào hết,  mà gia tài cha mẹ đã khổ công tạo lập nay  cũng  không giữ được. Kho  vựa  sạch  trơn, chỉ còn có bốn  vách  nhà trơ trọi,  cậu  một  mình một  thân không có cơm ăn  áo mặc, đói lạnh giày  vò.

Mới ngày  nào còn là một cậu công tử con nhà phú  hộ mà trong nháy mắt đã thành một kẻ ăn mày  khốn  khổ, Đăng Chỉ  xưa  kia  vốn tuấn tú bảnh bao,  mà  khi  gặp cảnh nguy  nàn rồi  thì  thân hình cũng  biến  đổi,  ngón tay  không còn phát ra ánh sáng nữa.

Đăng Chỉ  luân lạc  thành kẻ  ăn  xin,  bạn  bè  thân hữu  không còn ai lai vãng, họ hàng bà con cũng cắt đứt mọi  liên  hệ  với cậu.  Gặp  cậu,  không còn  ai  tươi  cười chào  hỏi,  ai cũng  quay đi hay  lánh xa,  hoặc  xua  hoặc đuổi.  Hoàn cảnh bi thảm ấy khiến cho Đăng Chỉ  cảm thấy được sự nhạt nhẽo  của cuộc sống, nhưng cậu cũng không thể  không miễn  cưỡng tiếp  tục cuộc sống ấy.

Cuối  cùng,  để kiếm  ăn,  cậu  tìm  được một  việc làm, đó là đi vác tử  thi  mướn.  Khi  con người  đến  chỗ tuyệt vọng  thì  đứng  trước  một  việc gì cũng  không thiết suy nghĩ  xa xôi, Đăng Chỉ  vác tử  thi  cho người  khác vì đó là một  công việc chẳng ai muốn làm,  và cậu  làm  việc ấy chẳng qua  cũng  chỉ vì miếng cơm manh áo mà thôi.

Có một  lần,  Đăng Chỉ  vác một  tử  thi  đến  một  ngôi mộ hoang, tính bỏ tử  thi  xuống  thì  lạ  thay, tử  thi  ấy bỗng nhiên ôm cứng lấy cậu. Cậu  hết  sức bình sinh hất tử thi ra, nhưng tử thi lại càng ôm chặt hơn nữa, không chịu  lơi tay  như  thể  đã bị đóng  đinh vào lưng  của  cậu vậy.

Đăng Chỉ  sợ cuống  cả người,  tự  mình không thoát ra được nên  chỉ biết  chạy  đi kiếm  người  giúp  đỡ. Đến thôn Chiên Đà La, cậu la lên cầu cứu, có một vài thanh niên lực lưỡng đến giúp cậu, nhưng làm gì thì làm cũng không gỡ tử thi  ra được.

Lúc ấy có một  vài người  nhát gan  thấy thế  chạy  ra mắng rủa Đăng Chỉ tại sao lại đem  tử thi  vào thôn, và rất nhiều người nhặt đá ném  cậu.  Cậu  vừa đau  vừa sợ, không biết  phải làm  cách nào. Bị đuổi ra khỏi thôn rồi, cậu  chỉ còn biết  chạy  càn  loạn  xạ, cuối cùng  chạy  đến cổng  thành, muốn vào  thành nhưng người  giữ  thành vung  gậy lên chặn đường,  lớn tiếng xua  đuổi:

– Tại sao ngươi ngu si quá vậy, cõng tử thi vào thành để làm  gì, bộ ngươi không biết  phương hướng  hả?

Đăng Chỉ chưa kịp đáp đã bị đánh một hèo vào chân. Nghĩ  tới số phận đau  khổ hiện tại của mình, Đăng Chỉ ngửa mặt lên trời  khóc rằng:

– Tôi xưa  kia  vốn con nhà hào  phú, nhà bị cướp lấy hết,  đến nỗi tuyệt vọng mà lâm vào hoàn cảnh phải vác tử  thi  cho người  kiếm  sống,  nào  ngờ oan  nghiệp theo đuổi,  bị  tử  thi  bám  chặt như  bị  đóng  đinh vào  lưng không chịu  buông  ra,  tôi phải làm  sao đây?

Người  giữ  thành  nghe những lời  thống thiết của Đăng Chỉ cũng  cảm  thấy tội nghiệp, nên  để cho cậu  đi qua, nhưng có ai muốn thân cận với một người cõng tử thi  kè  kè  trên lưng  xui  xẻo như  thế?  Không  còn cách nào  nữa, Đăng Chỉ  chỉ còn biết  cõng tử  thi  về lại  nhà cũ của mình. Lạ thay, vừa mới bước vào cổng nhà thì tử thi  cũng  tự động rơi xuống  đất.

Đăng Chỉ chú ý nhìn kỹ tử thi,  thì quái lạ, trong bàn tay  nắm lại  của  cái  thây cứng  đờ kia  có một  thứ  ánh sáng kim hoàng sáng chói phát ra. Đăng Chỉ vui mừng nhấc bàn  tay  ấy lên  xem,  lúc đó cậu  không còn sợ hãi nữa, thì  ra bàn  tay  ấy nắm một  khối  vàng  không biết từ bao giờ.

Đăng Chỉ  không còn để ý đấy  là một  tử  thi  hay  là một cái gì đáng sợ, bèn lấy một con dao nhỏ gỡ vàng  ra, nhưng vừa mới gỡ khối vàng  này  xuống  thì có một khối vàng  khác xuất hiện trở lại trong tay tử thi.  Cứ thế  cậu gỡ thì  vàng  hiện, hiện rồi  lại  gỡ, chẳng bao  lâu  đã  có một đống vàng  lớn trước  mặt.

Đăng Chỉ quá  đỗi vui mừng, bèn tu sửa  lại nhà cửa vườn tược vốn đã bị bỏ hoang từ lâu,  nay  trở thành huy hoàng tráng lệ, trong kho  tiền bạc  cũng  chất đầy  trở lại như  núi.

Có tiền rồi thì  bạn  bè họ hàng cũng  từ xa chạy  đến thăm viếng,  cả người  vợ bạc tình xưa  cũng  xin  trở  về, thật đúng như  người  xưa  dạy:  “Nhà  giàu  ở trong núi cũng  có khách xa  đến,  nhà nghèo  ngay  phố  chợ cũng không có người thân ở gần.”

Đăng Chỉ rất buồn  chuyện đời, những đau  khổ vừa qua  đã làm  cho cậu tỉnh ngộ phần nào rằng thế  gian  là vô thường, tiền tài không thật có, nên  cậu  cũng  không còn tham luyến nữa, đem  số tiền ấy đi làm  việc thiện, cứu giúp  người nghèo. Cậu  cũng  nhìn thấu rõ bản  chất của ngũ dục nên  xả bỏ tất cả, xuất gia đi theo  đức Phật, tinh tiến tu tập, chứng đắc được quả  A-la-hán rất mau lẹ.

Lúc ấy đầu  ngón  tay  của  cậu  phát ra ánh sáng trở lại,  chỉ có cái tử thi  tay  có nắm vàng  ấy là vẫn  đi theo cậu, cậu đi đâu  tử thi  bám  theo  đó, chỉ khi nào vào nhà mới tự động buông  ra.

Mọi người  thấy cuộc đời Đăng Chỉ  lạ lùng  như  thế nên  mới tìm  đến đức Phật xin thỉnh giáo. Đức Thế Tôn từ  bi liền  kể  lại  nhân duyên đời trước  cho mọi  người được rõ.

Nguyên do là  ngày  xưa,  Đăng Chỉ  sinh ở nước  Ba La Nại,  giàu  sang phú  quý, nhà lại ở ngay  sát một ngôi chùa. Mỗi sáng sớm cậu đều  vào điện  thờ Tam  Bảo mà cung  kính lễ  bái  thánh tượng  của  Như  Lai.  Có một hôm,  cậu  thấy một  ngón  tay  của  bức tượng  bị gãy, bèn phát tâm gắn  lại  một  ngón  tay  mới có sắc  vàng, nhờ công đức ấy nên  đời đời sinh ra trong nhà giàu  sang và ngón  tay  phát ra ánh sáng.

Nhưng tại sao  có một  lúc  trong đời lại  nghèo  khổ như  thế?  Đó là  vì lúc  trẻ,  được cha  mẹ  hết  mực  cưng chìu,  ai  cũng  phải nghe lời cậu  nên  cậu  trở  nên  kiêu căng.  Có một  lần  đi chơi về khuya, cửa  nhà đã  đóng, cậu  kêu  cửa  thật lâu  mẹ cậu  mới ra mở cửa.  Cậu  bèn giận  dữ mắng mẹ  rằng: “Bộ người  trong nhà chết  hết rồi sao mà  gọi cửa cả đêm  không ai biết?” Ác duyên ấy đã làm cho đời nay Đăng Chỉ mất cha mẹ rồi thì lưu lạc thành kẻ ăn xin, và phải vác tử thi  mướn.

Lại  một  đời nọ,  Đăng Chỉ  sinh ra trong nhà giàu sang, kính tín  Tam   Bảo.  Có  một  lần,   sau   khi  nghe thuyết giảng giáo pháp nên  hiểu được sự vô thường và đau  khổ  của  kiếp  người,  liền  cảm  thán nói  rằng: “Sự giàu  sang của  đời người chỉ thoáng qua  trong chốc lát. Dù  ta có thụ hưởng  dục  lạc  đến  hết  đời này  thì  cuối cùng  cũng  phải chấm dứt,  chẳng mang theo  được gì, đời sau  lại  không khỏi  phải chịu  khổ  trong lục  đạo.” Nói vậy rồi liền cương quyết xuất gia tu tập. Nhờ nhân duyên đó nên  đời này  được gặp  Phật, sớm chứng được thánh quả.

Đức Phật kể nhân duyên này  xong,  còn nói với đại chúng rằng:

– Thế  gian  khổ,  không, vô thường, không có gì là không hoại  diệt.  Ta  mong  mọi  người  hiểu rõ điều  ấy, đừng  chỉ sợ khổ báo mà không sợ tạo nhân ác.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s