Công chúa lột xác


cong chua lot xác

Vua  Ba Tư Nặc nước Kiều  Tát  Di La ở Ấn Độ là một  ông vua  nhân từ,  gần  gũi dân chúng, hết  lòng chăm lo việc nước và trị vì quốc gia rất khôn  khéo.  Vì thế  tên  của vị vua  hiền này  lan  xa khắp bốn  phương, ai  ai  cũng  ngưỡng mộ.  Nhưng ngay  bản thân ông, có một điều  làm  cho ông vô cùng  buồn  tiếc.

Vua  Ba Tư Nặc và hoàng hậu tức là phu  nhân Mạt Lợi sinh được  một  cô con  gái  tên  là  Ba  An  La.  Công chúa Ba  An La  bất  hạnh nên  sinh ra đã  vô cùng  xấu xí, da dẻ sần  sùi,  khó coi như  quỷ Dạ Xoa. Vì sợ bị chê cười nên  vua  dặn  dò người  trong cung  phải cẩn  thận giữ gìn, người ngoài  không ai được thấy mặt công chúa. Vì thế  công chúa bị nhốt trong cung  cấm  từ nhỏ,  chưa hề gặp mặt một người lạ nào.

Tuy mặt mày  cô xấu  xí nhưng dầu  gì cô cũng  là con gái  của   phu  nhân Mạt  Lợi, vốn là  một  vị hoàng hậu nhân từ và thương người, nên  không ai dám  coi thường và lơ là trong việc chăm sóc cho cô.

Con người sống trên dương  thế  ví như  khách lên xe và xuống  xe: lúc nhảy lên  xe là lúc bắt  đầu  cuộc sống, và cứ thế  cho đến  lúc xuống  xe là lúc trút hơi thở cuối cùng.  Trong khoảng giữa,  con người  sẽ phải sống  qua mọi nỗi vui  buồn  thương ghét của  cuộc đời mình. Một khi  xe chuyển bánh là  cứ hướng  thẳng về phía trước mà  chạy  không bao giờ ngừng, mỗi phút mỗi giây  đưa khách dần  dần  về tới trạm chót.  Khách lên  xe, không cần  biết  là giàu  hay  nghèo, quý  phái hay  hạ  tiện, đẹp hay  xấu,  khôn  hay  ngu,  không ai  là  không phải trải qua  cái lúc lên và xuống  xe ấy.

Công chúa Ba An La, con gái của phu  nhân Mạt  Lợi cũng  theo  dòng  chảy  của  thời  gian  mà  trưởng thành. Cô tới cái tuổi  thanh xuân tươi đẹp nhất của  đời người con gái, nhưng với một khuôn mặt như  thế,  vua  Ba Tư Nặc rất lấy làm  lo lắng  cho việc hôn  nhân của  cô. Con gái  lớn phải có chồng,  dầu  sao  công chúa cũng  không thể  vĩnh  viễn  sống cô quạnh ở chốn thâm cung.  Nhưng điều  làm  cho vua  và hoàng hậu khó  xử nhất chính là địa  vị của  mình: đường  đường  là vua  của  một nước mà lại không thể  gả công chúa cho người mình chọn.

Vua và hoàng hậu bàn  bạc mãi về vấn đề này nhưng không tìm  ra được giải  pháp nào  khả dĩ gọi là tốt  đẹp. Cuối  cùng,  họ chỉ còn cách  bí mật gởi sứ giả  ra ngoài thành dò xét, xem nhà nào có con trai thuộc hàng danh gia vọng tộc nhưng cảnh nhà sa sút, đời sống khó khăn khiến người thanh niên ấy không thể  kiếm  vợ, rồi đưa người ấy về cung.

Vài ngày  sau, sứ giả  đưa  về một  chàng thanh niên quần áo rách mướp nhưng mặt mũi sáng sủa  thanh tú.

Vua  thay đổi thường phục, ra vườn sau  gặp  người  này ở một nơi vắng  vẻ và nói:

– Nói thật với ngươi,  ta có một  đứa  con gái  đã  đến tuổi  lấy chồng  nhưng rất xấu  xí. Nếu  ngươi ưng thuận thì  ta sẽ gả công chúa cho ngươi,  bù lại ta sẽ cung  ứng tất cả các thứ  như  nhà cửa,  ăn  uống  vật  dụng cho hai người sau  này.  Vậy ý ngươi thế  nào?

Người  thanh niên nghe nhà vua  nói  thế  bèn  quỳ xuống  đất  khấu đầu  trả lời:

– Tâu  bệ hạ, tổ tiên hạ thần tuy thuộc dòng hào phú, nhưng nay cảnh nhà đã sa sút  nhiều. Bệ hạ không ghét bỏ, giá  như  có đem  tỳ nữ gả cho hạ  thần, hạ  thần còn phải mang ơn mà  bái  tạ thay, huống hồ bệ hạ  có lòng thương đem công chúa gả cho hạ thần, thì  hạ thần đâu có lý do gì mà không tuân lệnh!

Bao nhiêu ưu tư từ bấy  nhiêu năm nay,  vua  Ba Tư Nặc xem như  đã giải quyết xong, vì con gái mình đã có nơi nương  tựa. Mọi sự quyết định đâu  đó rồi, vua  bèn xây  cho  công  chúa một  tòa  cung  điện  tráng lệ,  phía trong có 7 lớp cửa.  Các lớp cửa này  sẽ được khóa chặt mãi  mãi,  chìa  khóa do phò  mã  đeo trong thân không lúc nào rời. Trong nhà có khoảng trăm cô nô tỳ, nhưng ai ở đâu  thì  phải ở mãi  đó, người trong nhà không được đi ra ngoài  và người từ bên ngoài  cũng  không được vào trong. Mọi chi  phí  trong nhà đều  do hoàng cung  đài thọ.

Lại  sợ phò  mã  bị người  ta coi thường nên  vua  còn phong cho phò mã một tước vị cao quý. Tới đây thì  nhà vua  xem như  mọi vấn  đề đã được giải  quyết ổn thỏa.

Ở Ấn Độ thời  ấy,  có phong tục  là những người  nhà giàu  phải luân phiên nhau tổ chức một buổi lễ họp mặt hằng tháng, gọi là hội “ngu lạc” và mời nhau đến tham dự để cùng  gặp gỡ, gắn  kết  tình cảm.

Trong các buổi lễ ấy, ai ai cũng đều có đôi có cặp, chỉ riêng phò mã  là lúc nào  cũng  đến  một  thân một  mình. Sau  hơn một năm trời,  mọi người đều thấy như  có điều chi  khả nghi. Họ nghĩ  rằng phò  mã  và công chúa kết hôn  chưa  được bao  lâu,  không lẽ tình cảm  đã  sứt  mẻ rồi hay sao? Hay công chúa sợ bị người khác nhìn thấy? Vậy thì  chắc công chúa phải là một tuyệt sắc giai nhân hay  là quỷ dạ xoa đội lốt, nếu  không thì  tại sao chưa  ai được thấy mặt bao giờ?

Họ muốn biết  công chúa là người  như  thế  nào  nên bèn  nghĩ  ra một  kế.  Trong một  buổi  hội  ngu  lạc, mọi người đặc biệt chăm sóc phò mã. Lúc uống rượu,  họ bày ra cuộc chơi đố rượu  (ai thua thì  phải uống  rượu  phạt), và cố ý chuốc phò mã uống rượu  cho đến say mèm.  Sau đó họ lục trong người phò mã lấy xâu  chìa  khóa và một số người được cử đi đại diện,  chạy bay đến cung điện  để nhìn mặt công chúa.

Lúc  đó, công  chúa Ba  An  La  bị cấm  cung,  theo  lệ thường chờ chồng  đi dự hội, một mình ở nhà âu sầu  áo não.  Cô tự  hận mình đã  tạo  tội  nghiệp đời trước  nên bây giờ mới bị vua cha giam  cầm, bị chồng ghét bỏ, suốt đời bị nhốt trong cung  cấm,  không bao  giờ được thấy ánh mặt trời,  không bao giờ được thở không khí  trong lành. Sống  một  cuộc đời đen  tối như  thế,  thì  hỏi sống có ý nghĩa gì?

Nghĩ   đến  đây,  nước  mắt cô  như   một  giòng  châu tuông lả  chả.  Bỗng  cô nhớ  lại  lời dặn  của  mẹ:  “Đừng tuyệt vọng,  nghiệp chướng có sâu  dày  tới đâu  đi nữa, chỉ nên  thành tâm cung  kính Tam  Bảo, khẩn cầu  sám hối.  Đức Phật từ  bi thường làm  lợi ích chúng sinh, có thể  giúp  chúng sinh giải  trừ  khổ nạn.”

Câu  nói của  mẹ đã làm  cho công chúa khởi lên một niệm  thiện tâm chí thành. Mỗi khi chồng cô đi ra ngoài, cô lại bày hương  án hướng  lên không trung lễ bái, thiết tha khẩn cầu sám  hối, xin cho mình có thân tướng  đẹp đẽ để được thấy ánh mặt trời.

Hôm   ấy,  ngay   vào  lúc  cô  đang chí  thành khẩn nguyện, một  luồng   hào  quang bỗng  nhiên tỏa  sáng và kim  thân đức Phật hiện ra trước  mắt cô. Nhìn hào quang tướng  hảo  của  đức Phật, công  chúa vui  mừng, lòng tôn  kính lại  càng  gia  tăng bội phần, cô phủ  phục xuống  đất  quỳ lạy, nước mắt tuôn thành dòng,  cầu  xin với đức Thế Tôn:

– Duy nguyện Phật tổ từ bi thương xót con, khuyên dạy con, phá  trừ  nghiệp chướng cho con, giải thoát con ra khỏi  cảnh thống khổ  hiện nay.  Con  nguyện từ  nay trở đi, đời đời kiếp  kiếp  hộ trì Tam  Bảo.

Công  chúa cầu  xin  như  thế  xong,  ngước  mắt lên chiêm ngưỡng thánh  nhan,  từ  quang của  đức  Phật chiếu sáng tâm can cô.

Thật là không thể  nghĩ  bàn, ngay  lúc ấy, khuôn mặt xấu  xí của  công chúa từ từ trở nên  xinh  đẹp  thanh tú, làn  da  sần  sùi  đen  đúa  trở  nên  mịn  màng, phơn  phớt hồng.  Từ  khuôn mặt, thân thể,  chân tay, toàn thân công chúa Ba An La đã thay đổi, bây giờ tướng  mạo  cô tuyệt diệu  như  một thiên nữ cung  trời.

Đức Phật từ trên không trung còn thuyết pháp cho công chúa nghe, khiến tinh thần cô phấn chấn lên, bao nhiêu buồn  thảm trước  kia  tan biến  hết.  Công  chúa hân hoan sung sướng  và an lòng rồi, đức Phật còn dạy thêm:

– Này  công chúa Ba  An La! Bây  giờ tuy  công chúa đã  chứng quả  Tu  Đà  Hoàn, nhưng vẫn  phải tiếp  tục tinh chuyên tu trì.  Kiếp người ngắn ngủi  lắm,  ta mong công chúa đừng  để cuộc sống luống  qua  vô ích.

Đức  Phật nói  xong  liền  từ  từ  biến  mất trong bầu không gian  xa thẳm. Công  chúa không còn phiền não âu  sầu, lòng  sùng kính tin  tưởng  vào  đức  Phật tăng thêm gấp bội.

Bây giờ nhắc đến những người đã lén lấy chìa  khóa cung  điện,  giả mạo lệnh phò mã đến mở từng lớp, từng lớp cửa để vào tới tận thâm cung.  Trong tay  họ có cầm xâu  chìa  khóa nên  họ không gặp trở ngại  nào và cứ thế đi thẳng vào tòa nhà sau  cùng.

Lúc ấy,  họ nhìn qua  khe  cửa  thấy dung nhan công chúa rạng ngời như  tỏa ánh sáng, xinh  đẹp như  tiên nữ nên  rất lấy  làm  kinh dị, không hiểu tại sao  trên trần thế  lại có người nhan sắc tuyệt vời đến  như  thế!

Họ không dám  nấn ná lâu,  liền  khóa kỹ các lớp cửa lại rồi vội vàng  trở về. May  quá, phò mã  vẫn  còn chưa tỉnh. Họ trả chìa  khóa về chỗ cũ rồi đem  những gì đã thấy kể lại  cho mọi người  nghe, khiến ai nấy  đều  xôn xao bàn  tán.

Hôm  ấy,  như  mọi  lần,  phò  mã  về nhà thật khuya. Nhưng vào  tới  lớp cửa  thứ  bảy,  chàng kinh ngạc  khi thấy một mỹ nhân đang ngồi bên giường.

– Cô là ai? Làm  sao cô vào được nhà của  chúng tôi? Công chúa đi đâu  rồi?

– Phu quân không nhận ra thiếp cũng  phải. Thiếp chính là công chúa Ba An La, vợ của phu  quân đây!

Công  chúa mỉm  cười, tha thướt yêu  kiều  tiến đến gần  phò  mã  nhưng phò  mã  lùi  lại  mấy  bước,  hoang mang không hiểu chuyện gì đã xảy ra.  Công chúa bèn đem  chuyện gặp  đức Phật ra kể cho phò  mã  nghe, rồi nói:

– Từ khi  sinh ra đến  giờ, thiếp chưa  từng được thấy mặt phụ  vương  và  mẫu hậu một  cách  kỹ  càng,  nên thiếp rất ao ước được gặp.  Phu quân hãy  vì thiếp mà về cung  trước,  xin phép phụ  vương cho thiếp được diện kiến.

Dĩ nhiên phò  mã  hoan hỉ  thực  hành ngay  lời yêu cầu  của  công chúa. Nhưng nhà vua  vừa  mới nghe nói công chúa đòi gặp liền  cau mày,  tỏ vẻ khó xử:

– Thôi  khanh hãy  về giữ  cửa  cho  kỹ,  nói  với công chúa bỏ ý nghĩ  ấy đi, đừng  đi ra ngoài.

Phò mã biết  ngay  tại sao nhà vua  cự tuyệt lời thỉnh cầu  của  công chúa, nên  đem  chuyện công chúa lột xác cải dạng kể cho vua nghe. Vua nghe xong vô cùng mừng rỡ, lập  tức cho người đưa  xe hoa và cung  nữ đi nghênh tiếp  công chúa hồi cung.

Sự thay đổi hoàn toàn của công chúa khiến cho nhà vua,  hoàng hậu và phò mã  vui mừng khôn  kể xiết.  Họ biết  hạnh phúc  gia  đình này  hoàn toàn nhờ  tâm từ  bi của  đức Phật, nên  để báo Phật ân,  họ lập  tức đến  tinh xá  Kỳ  Viên  và  mang theo  rất nhiều phẩm vật  cúng dường Tam Bảo. Vua Ba Tư Nặc đảnh lễ đức Phật xong, chắp  tay  bạch:

– Bạch  Thế  Tôn,  xin  Ngài  từ  bi khai thị  cho chúng con! Con  gái  chúng con đã  tạo  nghiệp gì mà  kiếp  này tuy  được sinh ra nơi vương  cung  thọ  hưởng  mọi  điều phú  quý  nhưng lại  xấu  xí đen  đúa  như  thế?  Ngưỡng mong  Thế  Tôn  giải  thích cho chúng con nỗi thắc mắc này.

Đức Phật bèn đem  chuyện quá  khứ  kể lại rằng:

– Con  người  sinh ra đời, đẹp  đẽ hay  xấu  xí đều  do nghiệp quá  khứ  mà  ra.  Tội báo hay  phúc  báo đều  như bóng  theo  hình, không có điều  gì là ngẫu nhiên cả. Vì thế  phải nói lý nhân quả  báo ứng  không mảy  may  hư dối, sai trật.

Trong quá  khứ,  nước  Ba  La  Nại  là  một  quốc  gia phồn  thịnh, nơi ấy có một  vị trưởng giả  rất giàu, giàu đến  nứt  đố đổ vách.  Ông  có tâm từ  thiện và biết  cung kính Tam  Bảo, vì thế  nên  thường xuyên mời chư tăng đến  nhà để cúng  dường.  Trong số những người  này,  có một  vị đã  chứng quả  A-la-hán là  hay  lui  tới nhất.  Vị này  chuyên tu khổ  hạnh, thấy rõ  lý vô thường, khổ, không trong thế  gian  nên  rất lơ là  trong vấn  đề  ăn mặc.  Ông chỉ khoác trên thân một tấm cà-sa rách nát, không biết  mặc  đã  bao  nhiêu năm mà  vá  trước  rách sau, không có chỗ nào là lành lặn,  coi được. Vì ông tiều tụy  rách rưới  như  thế  nên  cô con gái  ông  trưởng giả rất chán ghét ông. Vốn là một  thiên kim  tiểu thư, nên trong vấn đề ăn mặc, cô chỉ dùng những thứ  sang trọng đẹp đẽ nhất. Vì thế  nên  hình tướng  xấu  xí của vị A-la- hán  khiến cô khởi  tâm khinh bỉ, cho đến  nỗi có lúc cô đã thốt lời nhục mạ vị này.

Tuy  biết  rõ điều  ấy nhưng vị A-la-hán vẫn  tiếp  tục lui  tới nhà cô nhận lãnh cúng  dường  trong mấy  năm liền.  Một hôm,  vị A-la-hán ấy lại đến nhưng dùng cơm xong,  ông liền  bay  lên  hư  không, thị  hiện thần thông biến  hóa  đủ  cách.  Từ  người  ông,  giữa  hai  lông  mày phóng ra lửa  và  nước,  hoặc  ông  nằm ngang giữa  hư không mà  không rơi xuống  đất. Người  nào  nhìn thấy sự thị  hiện kỳ diệu  xuất thần như  thế  cũng  thích thú kính phục.

Cô  tiểu thư   con  gái  ông  trưởng giả  từ  trước  đến nay  vốn coi thường vị A-la-hán, nay  thấy thần thông vi diệu  của  ông  bèn  sinh lòng  kính trọng, không ngờ một  vị xuất gia  với bề ngoài  xấu  xí ấy lại  có công phu tu hành cao  dày  đến  dường  ấy,  không thể  nào  trông mặt mà bắt  hình dong được! Trước kia  cô thật quá  ngu xuẩn, đã  thường xuyên phỉ  báng một  vị  thánh tăng như  thế,  đúng là  tội  tày  trời!  Cô bèn  quỳ  xuống  đất nhìn lên vị A-la-hán trên không trung mà sám  hối, xin ngài  khoan thứ  cho tội ác khẩu kiêu  mạn của mình.

Vị A-la-hán trên không trung nhìn thấy cô tiểu thư đang sám  hối như  thế,  chỉ  mỉm  cười nhẹ  gật  đầu, rồi biến  mất trong nháy mắt. Từ đó vị A-la-hán ấy không còn đến  nhà ông trưởng giả nhận cúng  dường  nữa.

Cũng từ đó cô tiểu thư  nọ thường lập  đàn  trai cúng dường  chư tăng, làm  việc thiện, bố thí  rộng  rãi  để sám hối tội lỗi của mình lúc trước.

Đại vương, cô tiểu thư  thời ấy chính là công chúa Ba An La hôm nay. Vì tội khinh mạn thánh tăng trong quá khứ  nên  sinh ra có thân hình xấu  xí khó coi, nhưng lại nhờ  biết  cúng  Phật kính tăng nên  được sinh ra trong hoàng gia, lại được gặp Phật để lột xác biến  hình.

Lời dạy  của  đức Phật khiến tín  tâm của  đại  chúng tăng trưởng thêm lên. Họ không còn một mảy may tâm niệm  nghi  ngờ  công  đức  và  phước  báo  của  việc  cúng dường  và tôn kính Tam  Bảo.

Truyện cổ Phật Giáo – Diệu Hạnh Giao Trinh Việt dịch

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s