Phật độ người gánh phân


chien da la

Sáng hôm ấy kinh thành Xá Vệ tưng bừng rộn rịp khác hẳn mọi hôm. Trên các nẻo đường lớn, ngựa xe tấp nập, từng đoàn người nam cũng như nữ qua lại tranh nhau từng bước trong những bộ áo màu sặc sỡ.

Các cửa hàng đông nghẹt kẻ bán người mua. Tiếng guốc giày, tiếng vó ngựa vang lên tạo thành những âm thanh muôn điệu. Lại thêm tiếng xì xào của khách qua đường chuyện vãn nhau, tiếng trẻ em đùa giỡn, cùng muôn ngàn tiếng động không biết xuất phát tự đâu… tất cả đem lại cho Xá Vệ hôm ấy  một sinh khí mới mẻ, mãnh liệt khác hẳn với những ngày mưa gió buồn bã vừa qua.

Nhưng đi sâu vào các đường hẻm thì những cảnh sống hình như vui tươi giàu mạnh của số đông người trong hai giai cấp Sát Đế Lợi và Bà La Môn ấy không còn nữa, mà những cảnh bần cùng, đen tối của hai hạng người Tỳ Xá và Chiên Đà La hiện ra quá rõ rệt. Một trạng thái xã hội trái ngược như thế đã làm nhiều người chú ý.

Xã hội Ấn Độ thời bấy giờ có bốn giai cấp phân biệt nhau rõ rệt. Sát Đế Lợi là giai cấp của vua chúa và Bà La Môn là giai cấp giáo sĩ của đạo Bà La Môn xưa  nay nắm ưu thế và mọi quyền lợi trong nước. Hai giới hạ tiện Tỳ Xá và Chiên Đà La là những hạng người suốt đời cam làm thân phận tôi mọi phục dịch cho hai giai cấp trên…

Cảnh sinh sống của hai hạng người này rất đáng thương tâm… trong những đường xá chật hẹp, từng ngàn túp lều tranh, lá xiêu vẹo thấp lè tè. suốt ngày không mấy khi mở cửa… Những đứa bé đùa nhau chọc ghẹo đánh đập trong bùn dơ, nước đọng bên vệ đường… Những người tàn tật, nghèo đói lũ lượt đi từ nhà này sang nhà nọ xin nhờ sự bố thí một cách khó khăn…

Như thường lệ, sáng nay Đức Phật vào thành để giáo hoá. Ngài đi hết phố này đến xóm khác, tiếp xúc với bất kỳ ai, không phân biệt sang hèn nghèo giàu… Vì ngài là tượng trưng cho Công bình Huynh đệ.

Ni Đề, một thanh niên thuộc giai cấp Chiên Đà La đang gánh một gánh phân chạy lon ton trên con đường cái quan trong xóm nhỏ vừa thấy Đức Phật chàng bối rối sợ sệt, vội rẽ qua đường khác và tự than thân trách phận. Chàng nghĩ rằng mình đã sinh vào nơi thấp kém mà còn phải làm những việc đê hèn dơ bẩn như thế này nữa, thật là quá vô phước. Đã thế, trong xã hội, đồng là người cả thì sao lại dìm nhau trong cuộc sống?

Tuy rằng qua đường khác đôi mắt chàng vẫn đăm đăm hướng về hình ảnh trang nghiêm sáng rực hào quang của Đức Phật. Một sự ao ước trào dậy trong lòng chàng:

  • “Ôi biết bao giờ ta được trực tiếp gặp đấng sáng suốt kia.”

phat do nguoi ganh phan

Càng nhìn, lòng chàng càng cảm mộ. Tuy chưa gặp Đức Phật lần nào song đức hạnh hoàn toàn của Ngài chàng đã được nghe nhiều người kể lại.

Đức Phật đã hiểu ngay tâm niệm của Ni Đề qua cử chỉ rụt rè và đôi mắt đăm chiêu. Ngài bước nhanh về phía chàng.

Thấy Đức Phật đến Ni Đề hoảng hốt, vì nhận thấy mình bẩn thỉu dơ nhớp không đáng gần

Ngài, phần sợ người bắt tội nên lẩn tránh vào ngõ hẻm khác.

Đức Phật ở xa nói lại với một giọng thanh êm ái:

  • Con ơi! Như Lai đến với con đây. Sao con lại tránh? Ni Đề để đôi thùng xuống, run rẩy thưa:
  • Bạch Ngài! Con không dám, có điều chi dạy bảo, xin ngài ban cho, xin Ngài đừng đứng gần con…

Đức Phật bước thêm và lại đứng sát bên mình Ni Đề. Chàng cúi xuống và sắc mặt biến xanh, ra vẻ sợ sệt lắm, nhưng Đức Phật đã nở nụ cười chan chứa tình thương, an ủi:

  • Con ơi! Không ai có quyền bắt tội con đâu, vì chính Như Lai đến với con chớ không phải con tìm đến Như Lai.

Hơn nữa, Như Lai nay không phải là người trong giai cấp vua chúa như Thái Tử Tất Đạt Đa ngày xưa, mà là người của tất cả chúng sanh, nhất là của hạng người đau khổ như con. Như Lai muốn nói với con một vài câu chuyện…

Nghe qua lời nói dịu hiền đậm đà tình thương của Đức Phật, chàng thanh niên quảy phân mới bớt lo sợ và nhìn Đức Phật một cách trìu mến, chàng thưa:

  • Chẳng hay Đức Thế Tôn vẫn đoái hoài đến hạng người cùng khổ như con sao? Và con đây cũng được Ngài dạy bảo và được thực hành theo đạo của Ngài sao?
  • Ai đã làm cho con thắc mắc những điều ấy? Đức Phật nghiêm nghị hỏi lại.
  • Bạch Thế Tôn! Những đạo sĩ Bà La Môn thường nói chỉ có giai cấp họ và người trong dòng Sát Đế lợi mới có quyền thờ kính Hiền thánh và có quyền giao thiệp với người đồng giai cấp, chứ bọn con thuộc dòng hạ tiện không có phép làm những việc của họ làm và phải trọn đời phục dịch cho họ.

Ni Đề còn muốn nói nhiều nữa, song Đức Phật ngắt lời và hỏi:

  • Vậy con không biết Như Lai ra đời để cứu khổ cho chúng sanh bằng cách phá tan những mê tín dị đoan ỷ lại thần quyền và phân biệt giai cấp để đưa chúng sanh đến cuộc sống bình đẳng an vui sao?

“Không có phân chia giai cấp trong giọt máu cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn”.

Thôi giờ đây, con có muốn sống một cuộc đời tươi đẹp và rộng rãi không? Và con muốn sống gần Như Lai không?

Hai hàng nước mắt Ni Đề ràn rụa chảy dài xuống má. Chàng thưa:

  • Đó là điều con tưởng không bao giờ thực hiện được. Nếu được Ngài cứu độ, thì đó là phước lành ngàn năm một thuở của con vậy…

Dịu dàng Đức Phật cầm tay Ni Đề đưa đến một bờ sông gần đấy. Tắm rửa xong, chàng theo Ngài trở về tịnh xá Kỳ Hoàn và được Đức Phật thu nạp vào giáo hội cho làm Tỳ Khưu.

Qua một thời gian tinh tấn tu luyện, Ni Đề đắc quả Tu Đà Hoàn rồi lần chứng qủa A La Hán.

Bấy lâu Ba Tư Nặc Vương bất bình và không hiểu tại sao Đức Phật là người dòng hào thế Thích Ca mà lại độ đệ tử phần nhiều là những người ở hai giai cấp dưới.

Nay lại vừa nghe Đức Phật mới độ cho Ni Đề, một tên gánh phân đê tiện nghèo đói ông lại bất bình hơn nữa.

Càng nghĩ đến việc này, vua Ba Tư Nặc càng thêm tức giận. Liền đó ông cùng các vị cận thần đi đến Tịnh Xá Kỳ Hoàn để xin Phật đừng độ  cho Ni Đề làm Tỳ Khưu và từ rày trở về sau đừng cho những người thuộc giai cấp hạ tiện xuất gia.

Thương hại thay cho quan niệm sai lầm của ông và của những người trong giai cấp quen thống trị thiên hạ!

Khi vua Ba Tư Nặc và đoàn tùy tùng vừa đến tam quan tịnh xá Kỳ Hoàn, thấy một vị Tỳ Khưu đang ngồi trên một tảng đá lớn khâu vá chiếc áo cà sa cũ.

Ba Tư Nặc Vương liền đến nhờ vị Tỳ Khưu ấy vào bạch Phật xin cho ông yết kiến.

phat do nguoi ganh phan

Nhận lời vị Tỳ Khưu thay vì đi quanh tảng đá vào trong lại xuyên tảng đá và ẩn hình đâu mất. Ba Tư Nặc và mọi người thấy lạ đâm ra hoảng sợ nhưng vô cùng khâm phục.

Một lát sau vị Tỳ Khưu lại từ trong tảng đá hiện ra và trả lời cho Ba Tư Nặc Vương:

  • Mời Đại Vương cứ vào, Đức Thế Tôn đã hứa tiếp Ngài.

Vua Ba Tư Nặc bái chào rồi cùng các hạ thần đi ngay vào Tịnh Xá.

Đảnh lễ Đức Phật xong, Ba Tư Nặc Vương liền hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Thầy Tỳ Khưu xin cho con vào yết kiến là ai tên gì mà có thần thông quản đại như vậy? Thầy đã xuyên qua vách cứng một cách nhẹ nhàng tự tại.
  • Đại Vương! Đức Phật đáp, ấy là Ni Đề người gánh phân thành Xá Vệ mà ta đã độ cách đây hơn một tháng nay đã chứng quả A La Hán nên có những thần lực như vậy. Thấy Ba Tư Nặc Vương im lặng ra chiều suy nghĩ, Đức Phật ôn tồn nói thêm:
  • Này Đại Vương! Trong đất nhơ nhớp nở lên những cánh hoa đầy hương thơm tinh khiết Đại Vương có thích và có ưng nói đến không?
  • Bạch Thế Tôn! Nếu là hoa đẹp hương thơm thì không ai không qúy không muốn hái để ngấm nghía trang hoàng cả.
  • Đại Vương! Cũng vậy, tuy người ở trong các giai cấp dưới cũng do đâu mà có, giai cấp chẳng qua cũng do con người câu nệ phân chia ra thôi, nhưng nhờ sửa đổi đức hạnh, rèn luyện trí tuệ trở thành thánh hiền, thì người nọ có nên cung kính cúng dường không?

Ba Tư Nặc Vương thưa:

  • Bạch Thế Tôn, đã là thánh hiền rất đáng cho phàm phu chúng con cung kính cúng dường lắm.
  • Lành thay! Đại Vương quả là người sáng suốt biết quý trọng giá trị chân thật của con người.

Mặt trời làm tan mây mù ra sao thì những lời nói của Đức Phật cũng làm tan những ý niệm khinh dễ, chán ghét Ni Đề và các người trong hai giai cấp dưới của Ba Tư Nặc Vương thế ấy.

Bắt đầu từ đó ông vô cùng kính phục tài năng và đức hạnh của Ni Đề, vị tỳ khưu mà ông gặp dưới bóng tam quan tịnh xá Kỳ Hoàn.

Ba Tư Nặc Vương lại xin Phật cho thỉnh vị A La Hán Ni Đề ngày mai vào nội thành để giáo hóa cho Hoàng tộc và nhân dân và cũng để cho nhà vua được cúng dường luôn thể.

Đức Phật hứa cho Ba Tư Nặc Vương và các vị cận thần đảnh lễ và trở ra tam quan để trực tiếp thỉnh vị A La Hán thần thông tự tại khi nãy.

Được vị A La Hán này chấp nhận Ba Tư Nặc Vương vô cùng sung sướng. Trên đường về ông không ngớt tán thán Đức Phật đấng hiện thân của bình đẳng và giáo hội của ngài là một đoàn thể đầy đủ tài năng và đức độ.

***

TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO – Pháp Siêu – Nguyễn Thanh Dương

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s