Lấy đạo đức dẹp quân hung nô


lay dao duc dep quan hung no

MỘT KIẾP ĐI ĐÀY

Thuở xưa có một vị quan văn hiền đức bị kẻ nịnh âm mưu hãm hại nên xúi dục nhà vua xuống  chiếu  sai ngài cầm binh dẹp quân Hung  Nô. Ngài không  thể tâu xin chi được trước  lời sàm tấu của bọn kia đành tuân  lệnh đem quân đi dẹp giặc.

Khi quân binh đi đến nơi, đóng trại xong, ngài truyền lệnh treo cờ, rải giấy khắp nơi nội dung như sau:

“Phải ăn và sống nhưng đừng sát sinh trộm cướp”. Câu nói ấy có nghĩa là: Ai cũng phải sống hết mà sống là nhờ ăn. Vậy nên ăn là vấn đề rất liên quan cần thiết.

Hai pháp ấy sở dĩ có là do lòng không biết trộm cắp không sát sinh trước hết, của người cư gia hữu lậu.

Ngài dạy rằng: nhân loại phải biết trọng nghĩa khinh tài. Người ta đừng vì miếng ăn mà liều mạng. Kia như một bà nọ sinh ra một đứa con, cái sống có trước, rồi sau đó mới nói đến sự lo ăn. Đành rằng có ăn mới có sống, không ăn là chết, con vật còn muốn sống khi đã có cái sống, huống chi người. Nhưng chúng ta cũng nên biết thêm rằng: no quá là cũng phải chết. Con người vì tham ăn mà phải chết, phải hại nhau thì có còn ăn được món chi nữa đâu?

lay dao duc dep quan hung no

Như thế thì sự ăn chốc lát chẳng no ngon bằng sự bền dai. Người mà biết sống biết ăn để sống hay biết sống để ăn, thì kẻ ấy há vì miếng ăn, mà phải chết hết với nhau sao? Vả lại chúng ta ăn là để sống chớ phải nào sống để ăn.

Như vậy là người ta nên phải biết trọng nghĩa.

Người ta đừng coi  tài quá trọng khinh mạng hơn rơm cỏ, chúng ta phải biết rằng:

  • Mạng người quý báu, cái sống khó tìm, khi chết đi đâu còn sống lại, chớ còn của cải trước sau mau chậm có ngày ta kiếm được.

Vậy thì, chúng ta muốn sống là phải làm cho người được sống. Ta muốn ăn là phải giúp cho mọi người có ăn. Nếu ta có thể tiếp xúc cho họ, mà nhất là chớ phá tán người để xúi người hãm hại nhau bằng cách vô lý!

Rồi ông quan ấy giác ngộ cho quân binh bằng cách kể lại sử tích của một ông quan khác vào thời xưa.

MỘT LỘC BÌNH, MỘT MẠNG NGƯỜI

lay dao duc dep quan hung no

“Thuở xưa có một vị vua nước lớn, được một nước chư hầu cống sứ mười tám cái lục bình quý rất to. Một hôm vị quan thái giám vô ý lỡ tay trong lúc lau chùi, rớt bể mất một cái, đức Vua quá giận bèn truyền bắt đem đi xử trảm. Khi ấy có một vị quan đại thần quỳ xuống tâu:

  • Tâu Hoàng Thượng! xin Ngài hãy xá tội cho quan thái giám, kẻ hạ thần đây có thể

hàn dính cái lục bình ấy lại y như xưa, và không còn dấu vết nứt răn chi cả.

Vua bằng lòng, truyền người đưa vị Đại Thần đến cái tủ đựng lục bình. Đến gần tủ, ông bèn xô cái tủ ngã xuống, đỗ vỡ cả mười bảy cái kia.

Rồi ông đến gần Vua tâu rằng:

  • Tâu Hoàng Thượng! Từ khi chưa có những lục bình ấy nhà vua rất trọn lành tốt đẹp quý báu biết bao nhiêu.

lay dao duc dep quan hung no

Thế mà không dè chỉ vì một cái lục bình bể, mà nhà vua lại thất đức mê tâm, muốn giết chết một mạng người để phải mất lòng thiên hạ. Tính ác thường noi gương, thì sự hư hại lớn lao ấy sau này sẽ xảy ra bao nhiêu việc thảm họa. Hôm nay, nếu hạ thần còn để mười bảy cái lục bình lại thì sẽ còn phải thêm mười bảy mạng người vô tội như kia nữa. Vậy nên hạ thần muốn xin liều chết một mình để cứu mạng cho mười bảy người sau này, và để tránh sự hại cho tâm của nhà vua cùng bảo vệ đức thu phục nhân tâm của Hoàng thượng. Có như thế nhà vua mới khỏi mang tiếng là: “Không sinh ra người được mà sao lại nỡ giết người, khinh mạng người rẻ hơn đồ vật”.

Đến đây đức vua mới tỉnh ngộ, hối quá lấy tâm mình tha chết cho cả hai, mà lại trọng thưởng vị đại thần kia nữa. Và từ đó về sau đức vua hằng lo trau tâm gìn đức, trở nên một vị vua nhân từ, đức hạnh thiên hạ khắp nơi thảy đều phục tùng.

Vị quan văn ấy thường giảng giải cho quân binh nghe như vậy, nên không ai còn muốn ham đánh giặc giết chết nhau nữa.

Sau đó ông truyền đem phân nửa số của cải, tiền lương giúp đỡ dân đói rách, nóng lạnh bịnh hoạn. Ông dẹp bỏ lần lần hết khí giới, ông lập nhà thương, nhà dưỡng lão, nhà nuôi trẻ mồ côi, trường học, nhà bảo sanh, nhà chẩn tế để giúp đỡ cho dân chúng hung nô.

Ông lại giúp vốn cho kẻ làm ăn, nhất thiết cái gì ông bố thí ra đều không cần vụ lợi. Ông dạy quân lính phải biết tự lo làm ăn, và dư ra là nên bố thí, để cho sự sống và ăn của hai bên không chênh lệch nhau thì mới được yên vui cho cả mọi người. Ông lại bày ra sự cưới gả với nhau để cho hai sắc dân hòa hợp thương yêu mật thiết từ vật chất lẫn tinh thần tạo thành một sắc dân thứ ba mới lạ.

Ông cho đó là phù hợp với chân lý với lẽ chung, không riêng tư, chia rẽ phân biệt. Ông lại tôn thờ cả hai tôn giáo của  hai bên: Ông bày cất ra nhiều chùa, đền thờ, nhà giảng, cho khắp nơi dân hung nô đến nghe truyền đạo và học hỏi. Ông thương dân Hung Nô cũng như thương dân ông, và ông dạy cho quân binh phải có bổn phận như kẻ đàn anh, hy sinh giúp đỡ cho dân Hung nô. Ai muốn theo tu đạo giáo bên nào cũng được, ai muốn giữ đạo của mình tự ý và không ai được chỉ trích lẫn nhau mà tốt hơn là mỗi người hãy ráng học thêm những giáo lý của nhau.

NHỜ ĐẠO ĐỨC MÀ QUY PHỤC QUÂN HUNG NÔ

lay dao duc dep quan hung no

Nhờ thế nên quân Hung nô khắp nơi rủ nhau kéo đến ở trong đất của ông, theo ông và chịu phục làm dân. Họ bỏ cả gia đình xã hội, cha mẹ, vua, quan của họ. Họ mến phục ông là bởi ông không tham lam vụ lợi. Ông rất ưa thích cái nghèo, đủ ăn để sống, ông ra sức giúp

đỡ người nghèo. Ông biết đến chỗ cần thiếu của người ta, nên gần ông ai cũng cảm thấy no lòng mát dạ.

Ông lại tu học theo Pháp Phật, ông tôn kính đạo giáo của người, ông thường đem đạo lý chỉ giải cho mọi người. Vì thế nên ai ai cũng đều kính phục ông. Ông rất quý trọng sự bình đẳng. Ông không cho gọi ông bằng quan. Ông khuyến khích mọi người nâng cao gương đức hạnh, mộ tụ, ham học do đó mà các quan, vua Hung nô cũng tới lui thân mật với ông.

Ông thường đón tiếp họ tại chùa, đền thờ, nhà giảng, để bàn luận đạo lý mà không hề

nhắc đến chiến tranh.

Chẳng bao lâu, miền Hung nô ấy đều theo ông, theo bằng đạo đức của ông. Ông là thủy tổ của giống dân màu da mới.

Người ta kính trọng ông vì bởi ông có đức lớn trong sạch hơn hết. Ông không có vợ con, ông không tham trọng miếng ăn.

Ông không sát sanh, ông không hề biết đến trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, khoe khoang đâm thọc, chửi rủa, không uống rượu. Ông không ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu bông xinh đẹp như vua, không thích nghe xem hát múa đờn kèn chỗ đông vui yến tiệc, ông không chưng diện trang điểm áo quần như giàu sang.

Ông ăn Bát quan trai ngày một ngọ, và không chứa giữ bạc tiền, của quý. Ông giữ tư cách trang nghiêm, hạnh oai nghi, tự nơi ông hằng có cả mấy trăm điều luật khắc kỷ. Ông là người tốt đẹp, xinh lịch tư cách về tinh thần, cho nên ai cũng đều tôn quý ông. Như thế tức là ông thành công, ông đã thành công trong chỗ chết. Ông thành công làm cho ta và cả người, ăn và sống phải như nhau, bằng nhau, biết sống để ăn và biết ăn để sống.

KHÔNG MÀNG VINH HOA PHÚ QUÝ

lay dao duc dep quan hung no

Sau khi thành công chỗ đó xong ông lại đi đến những nơi loạn lạc, nỗi khổ khác để tế độ, cũng y như cách trên. Trọn đời ông, ông tạo lập không biết bao nhiêu xứ thiên đường cho nhân loại, nơi những chỗ có chiến tranh.

Mấy năm qua Đức vua mới hay biết được sự thành công của ông, bấy giờ nhà vua rất mến trọng ông, bèn triệu ông về phong thưởng chức quyền nhưng ông không chịu nhận. Vua phong vương tước cho ông và cho cai quản luôn đất nước ấy, ông cũng không chịu lãnh, vì ông chỉ muốn thong thả rảnh rang tu học và giúp đỡ chỉ bảo cho người, chớ không màng danh lợi.

Chính vị quan văn kia là tiền thân của Phật Thích Ca.

***

TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO – Pháp Siêu – Nguyễn Thanh Dương

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s