Truyện về kẻ giết người không ớn tay


truyen-ve-ke-giet-nguoi-khong-on-tay

Ngôi sao mai vừa lên chót đọt cao xa, thì đạo quân tiểu trừ của Đô Đốc họ Đào cũng vừa đến đầu cánh đồng Phượng Vĩ đang chìm đắm trong giấc ngủ mê say, lệnh bao vây đã truyền đi tức khắc.

Người ngựa câm lặng tràn đi dưới một bầu trời sao trong sáng… Đó là đạo binh của triều đình khét tiếng bạo tàn trên khắp núi rừng, thôn xóm của suốt bảy tỉnh miền Nam Trung, bạo tàn với tất cả những kẻ đã chống lại triều đình, chống lại nhà nước Bảo Hộ, tất cả dù là trong hàng vương tôn qúy tộc, hay ngoài tiện dân lê thứ là võ sinh, nho sĩ hay nông phu.

Bao nhiêu tiếng cười ngạo mạn đã tắt đi theo đầu rơi long lốc! Bao nhiêu cái thân trẻ ngang tàng ngã gục xuống dưới vó ngựa thanh trừng!

Bao nhiêu mái tranh nghèo vô tội đã bốc lửa giữa đêm khuya.

Không ai đếm được bao nhiêu cảnh chết chóc đó trong bao nhiêu năm nay!

Cũng không ai đếm được thanh Ngân tuyền kiếm của Đô đốc họ Đào đã bao nhiêu lần đỏ máu của anh hùng trong thiên hạ!

Người ta bảo rằng viên tướng trẻ ấy chưa hề biết rung động trước một đôi mắt sầu ngập lệ , trước một tiếng thất thanh não nùng của người sắp chết hay trước một tiếng ré thét kinh hoàng của một đôi môi hồng mọng sữa.

Hình ảnh ấy chỉ làm cho Đào bật tiếng cười hả hê, như mỗi lúc được nghe âm thanh ghê rợn của tiếng thép phập vào thân người.

Nhưng người ta cho biết rằng, Đào không bao giờ hả hê cả: hay là như chính Đào đã nghiến răng mà nguyền, là Đào chưa bao giờ hả hê được!

Bởi vì Đào còn một mối phụ cừu chưa rửa xong!

Ngày nào thanh Ngân tuyền được vấy máu kẻ đại cừu, họa mới có thể là ngày Đào mới coi lại bàn tay tanh máu của mình…

Nhưng mà chao ôi! Nào có biết được ngày đó là ngày nào.

Giữa thời ly loạn, ai kia như hạc nội mây ngàn, có dễ gì để cho Đào thanh toán được. Một thâm thù chẳng đội chung trời?

Cho nên, hận thù xưa, Đào vẫn trút lên đầu dân lành mấy cõi…

Và đêm nay, vó ngựa tiểu trừ của Đào lại hướng về Phượng Vĩ thôn vô tội…

Phượng Vĩ vẫn êm đềm say ngủ dưới trời sao, không hay biết vòng hung thần đang vây xiết chặt quanh mình.

Tiếng gà xao xác gáy, lẻ loi, rải rác…rồi lan đều khắp trong lòng thôn xóm… Vài tiếng trẻ khóc tu oa… Một giọng hát ru rười rượi… đứt quãng.

Xa hơn, hình như ngay từ hướng gió heo mây, tiếng đại hồng chung công phu đang đi dần về sáng.

Lỏng tay cương, Đào khoanh tay ngồi im trên lưng ngựa. Hơi sương làm Đào chợt thấy lạnh.

Quay sang nhìn tùy tướng Đào hỏi:

  • Đã chặt chẽ cả chứ?
  • Bẩm đã.
  • Cẩn mật chứ?
  • Bẩm vâng! Và quân binh đang chờ tướng công hạ lệnh.

TIẾNG CHUÔNG NGÂN TRONG SƯƠNG MÙ

  • Chưa vội! Hãy chờ đến sáng rõ. Này có ai từng biết Phượng Vĩ thôn?
  • Bẩm mùa thu năm ngoái mạt tướng có đi ngang đây.
  • À, Võ Nhân!… Thế ngươi biết tiếng chuông kia chứ? Của một ngôi chùa nào gần đây chăng!
  • Bẩm vâng! Đó là Bạch Liên Tự. Và tiếng chuông ấy chắc hẳn là của Hòa Thượng Khổ Hạnh đang công phu…Băng tắt cánh đồng này, có thể đến đó mà không bị người hay biết…
  • Tiếng chuông hình như vang từ một cao điểm… Bạch Liên Tự nằm trên một ngọn đồi cao có lẽ…
  • Bẩm đúng thế! Chùa nằm trên chót đồi Bạch Liên.
  • Đồi Bạch Liên! Nghe hay nhỉ! Ngươi có biết vì sao chùa có được cái tên đó chứ?
  • Bẩm vì ngay trên trung tâm đỉnh có một cái hồ sen trắng đẹp vô ngần. Có lẽ bây giờ đã nở và đồi đã thơm hương…
  • Thế à! Thì ta đến đó vậy! Ngươi cho lệnh ngựa lên trước đi. Rồi ghìm giây cương Đào nói tiếp như nói với mình:
  • Ngồi bên một ấm trà bốc khói trong lúc này hẳn là ấm cúng! Lâu quá rồi ta chẳng biết đến cái hương vị một chén trà mạn sen.

Tiếng đại hồng chung công phu vẫn ngân. Chuông ngân chầm chậm…rời rạc…  đều đều… cho lời kinh trầm trầm, dìu dịu… của một vị sư có lẽ đã già.

Nhảy xuống yên, ném cương cho tên quân hầu, Đào bước vào cổng tam quan.

Hương sen thoang thoảng quanh người mát rượi thơm tho. Đang đi Đào bỗng dừng lại, lặng ngắm cái đẹp hiển nhiên giữa lòng hồ vòng nguyệt trải rộng trước chân đi.

Quả như lời Võ Nhân, sen đã trổ đầy rồi. Trong ánh sáng mờ đục hơi sương, những cánh sen trắng ngần rung rinh đẹp như những nụ cười thanh khiết, đẹp như những chấm trắng linh động của những cánh chim trên nền trời hoàng hôn trong sáng.

Đào lẩm bẩm:

  • Lạ! Đồi cao thế này, mà lại tụ thủy được? Nghe nói Võ Nhân vội đáp:
  • Bẩm không phải! Hồ chỉ trũng sâu trong lòng đá, chứ không có mạch thủy. Nước lưng đầy theo mưa sa, nhưng nghe nói không hề cạn người ta bảo thế…Không rõ đó là công trình của hóa công hay của con người. Chỉ biết là nó đã có từ ngàn xưa, bao nhiêu đời trước khi ngôi chùa này có và trước khi có một vị hòa thượng biến nó thành một hồ sen bạch cho đến mãi bây giờ.

Đào gật gù…

Rồi cùng với các tùy tướng. Đào đi vòng theo hồ để đến cửa chính

Đào bỗng hỏi Võ Nhân:

  • Pháp danh của vị Hòa thượng này là gì nhỉ, ta quên mất.
  • Bẩm người hiệu là Khổ Hạnh!
  • Ra sao?
  • Bẩm, người quả là một bậc chân tu! Mạt tướng đã từng nghe người thuyết pháp.

Chắc chắn là tướng công sẽ được hài lòng khi gặp người.

Võ Nhân bước lên các bậc cấp đá hoa, đến gõ nhẹ vào cửa. Và cửa mở khi tiếng gõ lần thứ nhì vừa dứt.

Một khuôn mặt đẹp dịu hiền của một ni cô hiện ra giữa khung cửa với ngọn nến hồng trên tay.

Đào sáng mắt nhìn trong lúc ni cô cúi đầu thi lễ:

  • Mô Phật! Xin rước quý ngài vào trong… Hòa thượng người cũng vừa xong thời kinh công phu.

Rồi trang nghiêm, người đứng về một bên chừa lối, tay giơ cao ngọn nến cháy chập chờn.

HẬN XƯA BỪNG CHÁY.

Tiếng chuông không rõ đã dứt tự bao giờ. Trước Phật  đài, vị sư già đang đốt thêm một tuần hương. Khói thơm quyện lấy người, mờ tỏa màu áo cà sa và màu sáng của tượng Phật bằng đồng.

Đào cảm thấy ấm áp nhẹ nhàng…Mắt Đào thong thả nhìn cái dáng lưng gầy gò của sư cụ, qua những bức tượng màu, đến những nét chữ chân chữ thảo trên mặt hoành, mặt liễn. Rồi cuối cùng lại trở về lại cái lưng áo cà sa đã loãng khói.

Sư  cụ vẫn giữ nguyên tay giữa ngực, và ung dung quay lại.

Nét mặt khắc khổ hiền từ, với cái nhìn dìu dịu buồn, sáng rõ dưới ánh nến.

Đang vừa muốn thi lễ, Đào bỗng giựt phắt người, tay đặt ngay vào chuôi gươm.

Sư  cụ không thấy cái khác lạ của khách. Cái trán cao của người đã cúi xuống với tiếng chào:

  • Mô Phật!…

Nhưng một tiếng quát đã bật lên, ghê rợn như  tiếng sét:

  • Nguyễn Quốc!

Vị  sư già giật mình trông thấy đôi mắt sáng như hai tia lửa liền ngửng vội lên đăm đăm. Xung quanh, bao nhiêu ánh mắt cũng ngửng lên, lạ lùng nhìn Đào rồi nhìn sư cụ.

Đôi môi già bỗng lẩm bẩm:

  • Đào Kim Vũ?!…

Nghe được, Đào bật lên một tràng cười điên dại, rồi lại tắt ngay, răng nghiến vào nhau trèo trẹo:

  • Oan gia!… Oan gia!… Quả trời cao có mắt.

Thanh Ngân tuyền được rút phắt ra, mũi thép sáng ngời tiến chầm chậm đến ngực áo ca sa.

Một tiếng kêu hốt hoảng bật khẽ từ bên cạnh.

Đó là tiếng của Võ Nhân.

Và  một tiếng rú từ trước mặt, giữa khung cửa vào hậu liêu. Đó là tiếng của Ni Cô. Nhưng Đào không lệch mắt nhìn, mũi Ngân Tuyền vẫn không lệch đích đi…

Tiếng rít Đào vẫn đanh đá, dữ tợn:

  • Chính ta đây, Nguyễn Quốc!… Đào Kim Vũ này đã tìm người khắp bốn phương trời, trong suốt năm năm nay… Ta đã ngỡ… Ha… Ha! Trời đã giúp ta! Hồn thiêng của thân phụ ta đã giúp ta!… Nguyễn Quốc! Nguyễn Quốc!…

Đào lại bật lên cười như điên dại.

  • Mô Phật! Công tử đã không lầm, Nguyễn Quốc chính là bần đạo!

Đào dừng chân, và tắt tiếng cười, sòng sọc nhìn cái vẻ  điềm nhiên trên nét mặt già khắc khổ của cừu nhân.

Điềm nhiên cả giọng nói trầm buồn, như đang ngồi trước một chén trà thơm khói, nhà sư

nói tiếp.

  • Bao năm nay quả bần đạo không chờ có một ngày nay…
  • Không chờ…! Hừ!… Để mà yên thân làm một tên ác tăng dối đời gạt chúng!…
  • Đức Thích Ca Mâu Ni sẽ soi sáng cho Phật tâm của bần đạo!… Nhưng giờ đây cái ngày này đã đến, thì bần đạo vui lòng để công tử rửa mối thâm cừu…
  • Vui lòng! Vui lòng!… Đừng tỏ ra cái khí phách vạn bất đắc dĩ ấy với ta! Bẩn tai ta lắm!… Này thanh gươm này của ai ngươi nhớ chứ?

Mũi Ngân tuyền ghim sát vào ngực áo gầy, hơi thép rờn rợn lạnh.

Lại một tiếng rú khẽ từ trước mặt, giữa khung cửa vào hậu liêu. Nhưng ở đây gương mặt vẫn không đổi sắc. Vẫn điềm nhiên ở giọng nói:

  • Bần đạo chưa quên! Nó chính là người bạn đường oanh liệt của cánh tay này trong suốt một thời gian ngang dọc. Nhưng trong bao năm nay lại cũng chính nó đi đẫm máu dân lành… Thân này chết, nếu còn có điều gì ân hận, thì chính là điều đó…

Đào gầm lên:

  • Câm đi!… Oanh liệt!…

Thu tay gươm, Đào quay lại đám tùy tướng hạ lệnh:

  • Bắt sạch tất cả người của thôn xóm Phượng Vĩ lên đây cho ta.
  • Tuân lệnh!

Người tùy tướng vừa muốn quay ra, bỗng phải dừng lại vì  tiếng kêu của Khổ Hạnh Hòa

Thượng vội vàng:

  • Xin đừng!… Xin công tử đừng làm thế mà kinh động dân lành tội nghiệp!… Bần đạo xin trả thân già để công tử gia hình nhưng xin đừng hành hạ người vô tội mà bần đạo không nhắm mắt được… Công tử có muốn họ chứng kiến cái chết của bần đạo cũng được, nhưng xin để cho bần đạo gọi họ… khỏi phải nhọc sức quân binh…

Rồi không chờ đợi Đào bằng lòng, sư cụ quay lại gọi:

  • Diệu Liên!
  • Mô Phật!
  • Con ngân đại hồng chung cho tất cả chúng dân biết rằng ta đang cần gọi họ về chùa…
  • Mô Phật!

Diệu Liên Ni cô bủn rủn bước đi với đôi mắt  ướt long lanh…

Đào và tướng tá đứng quanh không một lời nói. Cảnh tượng ghê rợn làm sao!

Riêng Võ Nhân cúi đầu suy nghĩ…

MÓN NỢ XƯƠNG MÁU

Dưới thôn xa, gà đang rộ tan canh…

Tiếng Khổ Hạnh Hòa Thượng vẫn đều đều, trầm trầm thanh thản như những khi người thuyết pháp…nhưng lại không giống như người thuyết pháp…

Hòa Thượng đã kể rằng:

  • “Vào một sớm cách đây bảy năm, cùng cái tin Đức Vua Duy Tân rời Hoàng Thành đi biệt tích, là tin lãnh binh Đào Kim Văn bị giết ngay cửa thành nội…

Cái tin kia đã làm xúc động toàn cả Huế Đô bao nhiêu thì cái tin này, đã khiến phần đông người kể cả dân chúng lẫn quân binh hài lòng bấy nhiêu.

Bởi vì người ta biết mục đích sự ra đi của Đức Vua Duy Tân! Và bởi vì, Văn không được lòng dân lúc sống. Tuy nhiên, người ta đã phân vân không rõ vì sao Văn bị giết? Và ai là người giết Văn?

Nhưng rồi sau đó người ta biết: Kẻ giết Văn chính là Nguyễn Quốc, một bằng hữu thân thiết đồng cấp với Văn trong một đạo quân phòng thành! Biết chính là Quốc, bởi vì gần nơi Văn chết không xa, người ta tìm thấy thanh gươm Ngân Tuyền của Quốc rơi lại. Người ta chỉ biết có thế, chứ cái lẽ vì sao Quốc giết bạn, thì chưa mấy ai được rõ…

Cái lẽ đó như thế này…

Bình sinh chí hướng của đôi bạn một người một khác, Văn thân Pháp, Quốc chống Pháp. Nhập vào đội quân thành Quốc chỉ vì đại cuộc. Đêm đó vâng mật lệnh của chí sĩ họ Trần, Quốc sẵn sàng trông giữ cửa thành để hộ giá Đức Vua Duy Tân lìa Hoàng cung…

Đó là giờ phút quan trọng của lịch sử…

Cả một khối dân tộc đang chờ giờ phút ấy… Thế mà buồn biết chừng nào! Văn đã không muốn biết đến, mà còn dụng tâm phá hoại.

Quốc gặp người nghinh giá bên cửa thành ngay lúc vô tình hay cố ý, Văn bỗng đột ngột

đến, để rồi chỉ một thoáng nhìn, Văn hiểu ngay được âm mưu của Vua tôi – Quốc.

Và tất nhiên, Quốc được lệnh phải bảo vệ cho kỳ được cái kín nhẹm của mưu đồ.

Linh hồn của một phong trào chống Pháp, nhất định phải được an toàn, và nếu cần, Quốc không ngại chịu xương rơi thịt nát.

Cuối cùng, chỉ còn Quốc, một người một gươm đối diện với Văn… Hai người như một nhưng chí hướng khác nhau.

Quốc biết việc làm của mình rất khó: “Nhiệm vụ và nghĩa tình”

Cho nên Quốc đã rơi nước mắt mà khuyên Văn theo mình nghe theo lời phủ dụ của Đức

Vua Duy Tân.

Văn không thuận nghe cũng không tỏ ra phản nghịch.

Nhưng cuối cùng, Văn chạy vụt đi… Và rồi điều đau lòng đã phải xảy ra, Quốc phải rút gươm và gươm Quốc phải nhúng vào máu Văn… Cũng chỉ vì đại cuộc của dân tộc!

Khổ Hạnh Hòa Thượng ngưng nói, nhìn bao quát tất cả. Người cảm biết những nét mặt lo âu kia, đã hiểu được phần cuối cùng của sự việc. Và có lẽ họ cũng đã hiểu được điều gì xảy ra trong sớm nay, trước khi mặt trời lóe mọc.

Tuy vậy người cũng nói, sau một cái hướng mắt về phía Đào:

  • Đề Đốc Đào Kim Vũ chính là công tử đây! Và Nguyễn Quốc chính là bần đạo, cho nên bên cạnh cái đau lòng vì phải tan vỡ cái nghĩa tình trong suốt bảy năm nay, lương tâm của bần đạo đã không có cái ân hận nhục nhã đối với dân, đối với nước, bần đạo cũng không thẹn, không hổ khi khoác chiếc áo cà sa, khi niệm lên lời kinh Đại Từ Đại Bi trước Phật Đài, thẹn chăng, hổ chăng là bần đạo đã đi liệm phần cuối cùng cuộc đời mình trong an nhàn, cạnh một mối sầu vong quốc không tan!…

Cho nên trước khi đem cái chết để giải một oan cừu, bần đạo xin mượn lời người xưa để

gởi lại đời những nỗi niềm không bao giờ nói…

Rồi lại quay về Diệu Liên, người nhẹ bảo:

  • Nghiên bút cho thầy!…

Trong khoảnh khắc, vách chùa hồng lên những giòng thơ sắc nét ngang tàng.

LẠI THÊM MỘT CHIẾC ĐẦU RƠI

Đào đứng im lặng nhìn.

Nét sát khí như dịu đi trên gương mặt trẻ. Từ  nãy, Đào đã nghe có cái gì gợn nhẹ trong lòng. Và trong một thoáng Đào như quên đi việc phải làm, quên đi những điều đã gậm nhấm  đêm ngày.

Nhưng chỉ một thoáng, chỉ một thoáng, hình ảnh đẩm máu cái thân của cha hiện rõ trước mắt… Oán cừu lại nổi giận… Mặt  Đào lại nóng lửa sát khí…

Đào thét:

  • Thôi đi! Kẻ khẩu Phật tâm xà! Đừng nhiều lời để mong ta tha thứ! Ngươi phải chết!… Lưỡi gươm hoa lên theo tiếng nói.

Tất cả như toàn thân ớn lạnh…

Nhưng Võ Nhân đã bước tới nâng lưỡi gươm, cùng với tiếng vội vàng:

  • Xin tướng công cho mạt tướng được nói ít lời! Đào dừng tay, long mắt:
  • Ngươi muốn gì? Võ cuối đầu đáp:
  • Bẩm, mạt tướng chưa bao giờ dám hé lời mỗi lúc tướng công rút gươm ra khỏi vỏ.

Nhưng hôm nay…

  • Thì sao?… Ngươi ngăn ta chăng?
  • Bẩm không! Mạt tướng không dám thế! Mạt tướng chỉ cầu xin tướng công xét lại…

Không hiểu vì sao… bẩm tướng công, nói điều này mạt tướng biết sẽ chịu ngay sấm sét, búa rìu, nhưng xin tướng công thương, chứ quả tình, không hiểu vì sao mạt tướng lại cảm thấy Khổ Hạnh Hòa Thượng đáng kính hơn đáng hờn.

Đào quát ngay:

  • Im đi! Ngươi lại có thể kính được kẻ đã giết cha chủ tướng ngươi sao? Lui đi đừng

điên cuồng nói với ta những lời bất hiếu bất mục mà chết bây giờ! Võ  vẫn một giọng van nài:

  • Xin cho mạt tướng cạn lời…
  • Ta bảo im!… Có nghe chưa?

Đào bỗng nghiến răng… Và chớp mắt, vung mạnh một đường gươm không thương xót… Người ta chỉ kịp nhìn thấy cái đầu trai trẻ của Võ băng đi và rơi bõm xuống lòng hồ sen

bạch.

Một khoảng hoa lá rung rinh… Một ít máu hồng vương trên nhụy vàng cánh trắng… Và  khối thịt của Võ văng đi lăn lông lốc trên các bực thềm…

Bao bàn tay bụm lấy mặt.

Trời sương hải hùng, nức nở… Máu đã tuôn trên thôn Phượng Vĩ, và lệ sầu còn tuôn mãi nhiều hơn.

Diệu Liên Ni Cô đã quỵ xuống tự bao giờ, toàn thân rung rung trong lớp áo nâu sồng.

Và Khổ Hạnh Hòa Thượng cũng đã quỳ xuống! Mấy giọt nước mắt long lanh, nâng cái hình hài tắm máu lên tay thảm thiết:

  • Mô Phật! Thân này của bần đạo có đáng gì để phải lụy đến người!… Có đáng gì!…

Đào vẫn như không nghe thấy gì cả với đôi mắt đỏ ngầu sòng sọc. Hết nhìn bọn tùy tướng len lét cúi đầu, Đào lại nhìn đám dân đen đang bàng hoàng trong nước mắt.

Và  Đào quát giọng gằn gằn ghê gớm:

  • Còn kẻ nào nữa? Muốn điên cuồng chết thế cho kẻ kia thì bước ra ta xem?…

Thâm  tâm Đào  tự cho  đó  là câu  hỏi  thừa.  Nhất   định  là không  có đến  hai  kẻ cuồng như  Võ Nhân.

Nhưng kia…

Đào giật mình, nhìn một mái tóc già, một lưng khọm bước ra với một tiếng lạnh lùng.

  • Tôi!

Không nói không rằng, Đào tím mặt nhảy vụt xuống bờ  hồ vòng nguyệt. Nhưng vừa đứng vững, Đào bỗng giật mình quay lại.

Ni cô Diệu Liên cũng đã đứt phắt dậy, và cũng với một tiếng lạnh lùng.

  • Tôi!

Đào quắc mắt nhưng chân mày Đào cau lại.

Giữa lúc Khổ Hạnh Hòa Thượng vội thẳng người dậy vươn tay về phía trước, như cản ngăn:

  • Mô Phật! Đừng! Đừng! Hãy để cho linh hồn bần đạo nhẹ nhàng siêu thoát. Rồi hướng về phía Đào người nói:
  • Hãy giết tôi đi! Công tử! Và hãy tha cho những người vô tội, chao ôi! Đức Phật tổ vì người mà xả thân… Còn kẻ hèn này lại để cho người vì mình mà uổng tử!… Biết bao giờ!… Biết bao giờ ta mới được trả cho tròn!…
  • Ngươi muốn gì nữa?
  • Không! Không! Bần đạo không còn muốn gì nữa, ngoài cái muốn đem thân này để giải mối oan gia cho hai họ… Vì dân vì nước mà bần đạo gieo cái nhân thì bây giờ gặt cái quả, bần đạo cũng muốn vì dân vì nước… là mãn nguyện cho bần đạo lắm rồi! Công tử hãy cứ xuống tay đi, cho bần đạo khỏi còn rơi nước mắt và cho khỏi đổ thêm máu dân lành.
  • Ngươi khỏi cần nài!… Nhưng ta muốn ban cho ngươi một ân huệ cuối cùng, để thiên hạ thấy rằng ta độ lượng khi giết một kẻ tay không…
  • ….

Đào thu gươm lại, dằn dằn từ tiếng:

  • Sám hối đi!… Ta cho ngươi một khắc cuối cùng để mà dọn mình…
  • “Đại từ đại bi mẫn chúng sanh

Đại hỷ Đại xả tế hàm thức

Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm Ngã  đẳng chí tâm quy mạng lễ” Boong!…

Nam Mô Quy Y Kim Cang Thượng sư… Boong!…

Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng

Boong!…

Tiếng chuông đồng sám hối ngân trong gió sớm, buồn như  tiếng thở dài không bao giờ dứt… Và lời kinh sám hối trên đôi môi già ướt lệ, cũng buồn như một lời than não nùng…

Khổ  Hạnh Hòa Thượng cảm nghe lòng mình cũng đang ngân hồi nức nở. Chưa bao giờ

người nghe mình đau đớn trong thời kinh sám hối như hôm nay.

Cũng chưa bao giờ với lời kinh này, tiếng chuông ngày, người lại nghe cái nguyện vọng cảnh tỉnh của mình tha thiết như hôm nay!

Và  tất cả người dân Phượng Vĩ, cũng chưa bao giờ như hôm nay lại nghe lòng mình ấm ức nghẹn ngào, vì một âm thanh đồng vọng, cái âm thanh của hai buổi sớm chiều quen thuộc…

Diệu Liên Ni Cô nghe đau nhói theo từng mỗi tiếng đồng…

Ni cô cảm nghe, đó là tiếng đếm của tử thần  đang lăm le lưỡi hái… Người cảm thấy nó sẽ  giơ lên và nó sẽ hạ xuống… ghê  gớm trên tấm thân già của sư phụ khi tiếng đếm cuối cùng vừa dứt… Than ôi! Suốt bốn năm  đằng đẵng, công ân dẫn dắt qua khỏi vòng nghiệp chướng tham, sân, si… Công ân truyền dạy lẽ cứu đời… nào biết là bao nhiêu?

Giờ   đây  không  thể không  đền  đáp!  Không  thể không  giữ cho  tấm áo  cà sa  kia  của sư phụ  đừng vấy máu!

Boong!

  • Xin ngài hãy giết tôi! Hãy giết tôi!… Và xin tha cho một công đức tuổi tác để người sống nốt quãng đời đạo hạnh của người!… Van ngài… Van ngài bằng lòng đi đừng để đến dứt tiếng chuông cuối cùng…

Bờ  mi đẹp đọng lệ long lanh, như sương tươm đầu lá ướt.

Đào nhìn vào đó chân mày cau lại. Rồi bỗng quay đi, răng cắn lấy bờ môi… Nhưng mắt Đào lại vấp phải trăm ngàn bờ mi khác cũng đang đọng lệ long lanh. Và  từ nơi đó, và khắp cả rền lên những  lời cầu nguyện tha thiết:

  • Mô Phật xin hãy thoa dịu hờn căm trong lòng người, xin đừng để… đừng để máu rơi thây ngã… Đừng để cho oán thù truyền kiếp chất chồng.

Đào quay mặt đi cố giữ cho lòng không rung động. Nhưng cái hình hài không đầu chưa khô máu lại đón mặt Đào. Đào nhìn thấy từ nơi đó… từ khắp cả, từ trên mỗi lòng hoa, mặt lá, hiển hiện đôi mắt sầu ai oán của Võ… Những đôi mắt sầu ngập lệ khác… Những lời than não nùng, những tiếng thét kinh hoàng, những đầu rơi lông lốc, những hình hài máu đỏ… Chao ôi sao mà thê thảm thế này! Sao mà ghê tởm thế này!

Và  những lời kinh, những tiếng chuông kia! Oan hồn nức nở  đó chăng?

Bất giác Đào rùng mình, có cái gì ớn lạnh luồn nhanh trong đường gân thớ thịt…

Và  thanh Ngân tuyền rời khỏi bàn tay đang nắm. Trong kia, qua khói trầm xao động, tượng Đức Thích Ca buồn rầu ánh mắt, Đào thấy như đang đau xót nhìn mình.

Không còn kềm chế được nữa, xúc cảm dâng tràn… thổn thức.

Đào ngoảnh mặt quay ra…

Rồi  giữa  tiếng  đại  hồng  chung  vừa  vang  dậy,  Đào  chạy  vụt   đi ra cửa  tam  quan… lệ mờ đất sớm…

Từ đó bóng Đào biệt tích.

Mười năm sau, những ai thường đi ngang qua thôn Hoàng Mai yên lành ở cuối dãy

Trường Sơn đều biết vị Hòa Thượng trụ trì am Đại Hạnh.

Người còn trẻ, da mặt hồng hào mặc dù trải bao nhiêu năm tu khổ hạnh. Không ai biết người từ đâu đến tên thật là gì ngoài pháp danh Giác Minh.

Đạo Hạnh của người đã truyền tụng cả một vùng rộng lớn. Người ta kể rằng:

  • Giác Minh Hòa Thượng đã từng cởi áo cà sa của mình đắp cho một người ăn xin nghèo đói đang run rẩy bên đường. Người đã từng thức trắng bao nhiêu đêm để dỗ giấc ngủ, Người đã từng nắm lấy tay cày, cày giúp cho một quả phụ nghèo, mảnh ruộng cao cằn cỗi bên đồi. Những đêm khuya tăm tối, dù giữa trời giông gió, dù dưới cơn rét tận tâm can, hay mưa dầm gió buốt, người ta vẫn thấy một ánh đuốc lập lòe

của Hòa Thượng xuống đồi đi lần vào lòng thôn xóm đang cần đến người… Và không biết bao nhiêu lần nữa… Mọi việc người làm để cứu nhân độ thế, chưa từng có một ai tích cực bằng.

Người thường nói rằng:

  • Tội lỗi ngày xưa của bần đạo rộng như Đông Hải, nặng như núi Trường Sơn, bốn đại dương nước mắt của chúng sinh quả đã có bàn tay của bần đạo làm nên trong đó không ít, thì khổ hạnh mười năm nào có nghĩa gì?…

Cho  nên đêm  đêm,  giữa  thảo  am  chập  chờn ánh  nến  khói  hương  tỏa  mịt  trước

Phật Đường, lời kinh sám hối của người vẫn buồn như một lời than não nùng.

Và  cùng với lệ nến, nước mắt của người chảy mãi không ngừng…

***

TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO – Pháp Siêu – Nguyễn Thanh Dương

Tìm hiểu sản phẩm liên quan bên dưới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s